Tổng hợp

Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

18A02057 tckt.vn 01 768x358 1 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Đặc điểm kiến trúc thời Nguyễn

Kiến trúc thời nguyễn

Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải.
Nhà Nguyễn là triều đại có nhiều đóng góp trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là một kho tàng kiến trúc đồ sộ, mà tiêu biểu là quần thể kinh thành Huế và nhiều công trình quân sự khác[117]

Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3 vòng thành bảo vệ. Kinh thành do vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng năm 1805 và được Minh Mạng tiếp tục hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ. [117] Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống thời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt Nam hóa. Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long. Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với ngũ phương.[118]

Thành Gia Định là một công trình phòng thủ quân sự, được Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh xây dựng tại làng Tân Khai, huyện Bình Dương, đất Gia Định, sau này là Sài Gòn, kể từ ngày 4 tháng 2 năm 1790 theo kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây, dựa trên một bản thiết kế của một người Pháp là Olivier de Puymanel (Việt danh là Ông Tín). Thành được xây có 8 cạnh nên gọi là “Bát Quái”. Thành còn có tên khác là “Thành Quy”. Thành có 8 cửa, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Li Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiền, phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấm Chí, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Duyệt. Thời Minh Mạng đổi tên các cửa: phía nam là cửa Gia Định và cửa Phiên An, phía bắc là cửa Củng Thần và cửa Vọng Thuyết, phía đông là cửa Phục Viễn và cửa Hoài Lai, phía tây là cửa Tĩnh Biên và cửa Tuyên Hóa. Ngày 18 tháng 3 năm 1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy thành Sài Gòn và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại thành. Dấu tích duy nhất ngày nay còn lại là bức tranh vẽ ảnh thực dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son.[119]

Kiến trúc thành lũy thời nhà Nguyễn

Đặc điểm nổi bật của các thành thời Nguyễn, đặc biệt là thành ngoại (phòng thành), là loại kiến trúc phòng thủ theo mô hình của Vauban2. Ở Việt Nam, thành đầu tiên xây dựng theo kiểu Vauban là thành Sài Gòn (xây năm 1790 bởi Nguyễn Ánh – Vua Gia Long). Sau khi thống nhất đất nước, các vị vua Nhà Nguyễn liên tục kế thừa và xây dựng các thành, đồn theo kiểu kiến trúc Vauban. Tuy nhiên, các công trình này không thiếu sự kết hợp độc đáo với đặc trưng kiến trúc truyền thống phương Đông, như vọng lâu và gác canh được xây dựng từ vật liệu nhẹ như gỗ, lợp mái ngói âm dương, cùng với cột kèo được chạm trổ hoa văn.
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Một điểm quan trọng khác là các tòa thành thời Nguyễn được phân biệt với quy mô khác nhau để đặt ra sự tương phản giữa Đô Thành và Tỉnh Thành. Sự phân loại này dựa trên hệ thống luật xây dựng được thiết lập bởi Bộ Công và các cơ quan chuyên trách thời Nguyễn. Đây là cơ sở để đảm bảo rằng kinh đô và các tỉnh thành được quy hoạch một cách bền vững và kiên cố. Như vậy, dựa vào hệ thống luật và cơ cấu quản lý hành chính, các tòa thành thời Nguyễn có thể được phân loại thành Đô Thành (Kinh Thành Huế), Trấn Thành – Tỉnh Thành (thành ở các tỉnh), Phủ Thành – Huyện Thành và đồn – pháo đài.

Kiến trúc Kinh thành Huế

Việc xây dựng Kinh Thành Huế bắt đầu từ năm 1805 và chính thức hoàn thành vào năm 1832, trong thời đại của vua Minh Mạng. Kinh Thành Huế bao gồm ba vòng thành: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Vòng thành ngoại được xây dựng theo kiểu Vauban, đại diện cho một phần quan trọng trong kiến trúc quân sự. Bên ngoài Kinh Thành là hệ thống hào bao bao quanh từng mặt. Cách hào khoảng 200m ở phía ngoài là hệ thống sông Hộ Thành. Đây là một con sông đào bọc lấy Kinh Thành từ ba phía bên trái, phải và phía sau, trước khi đổ vào sông Hương ở phía trước của Kinh Thành (hình 1).

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 1 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Hình 1: Kinh thành Huế khoảng năm 2006 (Ảnh: Kei Mizuno, Đại học Kyoto)
Hoàng Thành là trung tâm hội tụ các cơ quan quản lý hàng đầu của triều Nguyễn, có hình dạng chữ nhật với kích thước 606x622m3 và tường cao 4m. Có tổng cộng bốn cổng ra vào, được bao quanh bởi hồ Kim Thủy. Tử Cấm Thành nằm bên trong Hoàng Thành, đằng sau điện Thái Hòa, đó là nơi dành cho vua và gia đình. Kích thước của Tử Cấm Thành là 324x290m, với tường cao 3,72m. Mặc dù hai vòng thành này không hoàn toàn theo kiến trúc Vauban, nhưng vẫn duy trì cách xây dựng và bố trí kiến trúc theo phong cách phương Đông. Bên trong Hoàng Thành, có các cung điện, cơ quan làm việc, và các công trình khác dành cho vua, cung phi, hoàng hậu, hoàng tử như điện Thái Hòa, cung Diên Thọ, phủ Nội vụ, Duyệt Thị đường, điện Cần Chánh và điện Càn Thành.

Kích thước của Kinh Thành được quy định chi tiết theo chế độ của triều Nguyễn [11: 13]. Ví dụ, chu vi của Kinh Thành là 2487 trượng 3 thước, cao 1 trượng 5 thước. Thành có 10 cửa, đều được xây bằng gạch và cao hai tầng. Trước cửa Ngọ Môn là Kỳ Đài ba tầng, có chiều cao 4 trượng 4 thước. Các pháo đài được đặt xung quanh cả bốn mặt của thành. Mỗi mặt Đông, Tây, Nam và Bắc đều có năm pháo đài, cộng thêm bốn pháo đài đặt ở bốn góc của thành. Ở góc Đông Bắc, có một tầng thành khác được thêm vào được gọi là đài Trấn Bình. Chu vi của vòng thành là khoảng hơn 10.000m. Tường thành có chiều cao khoảng 6,46m và dày trung bình khoảng 21m [13: 175]. Ban đầu, Kinh Thành Huế được đắp từ đất, sau đó các mặt tường được xây dựng bằng gạch vồ.

Tỉnh thành thời Nguyễn (…)

Dưới thời Nguyễn, kiểu cấu trúc Vauban được xây dựng cho các thành tỉnh như Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Yên, Hưng Hóa, Nam Định, Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Biên Hòa, Vĩnh Long, và Phú Yên. Kích thước các thành tỉnh đều phải tuân theo quy định của triều Nguyễn [11: 14]. Ví dụ, tất cả các tỉnh thành, tùy theo địa thế rộng hẹp mà chu vi có thể 200, 300 trượng, hoặc có thể lên đến 1000 trượng. Tuy nhiên, chiều cao thành không được quá một trượng. Có hào bao bọc xung quanh, chiều rộng hào chỉ từ bốn đến năm trượng. Thành có thể được đắp bằng gạch hoặc đá, nền lát đá Thanh. Thành có bốn cửa: Trước, sau, tả và hữu.

Năm 1831, Vua Minh Mạng cho bỏ các tổng trấn và chia cả nước thành 29 tỉnh. Mỗi tỉnh đều xây một tòa thành làm nơi đóng quân và lỵ sở hành chính gọi là tỉnh thành. Các tỉnh thành này có thể có hình dạng khác nhau nhưng đều dựa trên kiểu Vauban, ban đầu đắp tường đất, sau ốp gạch, đá hoặc đá ong tùy vào điều kiện địa phương. Quy mô các thành đều tuân theo những quy định như đã nói trên với chu vi từ 300-400 trượng. Riêng thành Nam Định là thành có chu vi lớn nhất: 830 trượng 7 thước 3 tấc. Còn thành Hà Tiên thì nhỏ nhất với chu vi 93 trượng 2 thước [11: 143].

Thành Hà Nội được vua Gia Long cho xây đắp theo kiểu Vauban vào năm 1803. Năm 1805 thì xây năm cổng thành. Từ năm 1820, xây hành cung và các công trình bên trong. Thành này lúc đầu là trấn thành, có chiều cao 1 trượng 1 thước 2 tấc. Sau đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Hà Nội trở thành tỉnh thành nên năm Minh Mạng thứ 16, vua cho giảm bớt đi 1 thước 8 tấc cho đúng quy định. Hình 2 cho thấy thành Hà Nội có dạng hình vuông, mỗi cạnh có hai phần lồi dùng bố trí pháo đài. Ngoài ra bốn góc có bốn pháo đài góc. Thành có năm cửa, mỗi mặt Đông, Tây và Bắc có một cửa nằm chính giữa. Riêng mặt Nam, mặt chính của tòa thành, có hai cửa. So với các thành cùng thời thì việc có hai cửa ở mặt chính là khá đặc biệt và có tác dụng che chắn các công trình bên trong trở nên kín đáo hơn. Sau này, thực dân Pháp đã cho san bằng thành Hà Nội và hiện chỉ còn lại kỳ đài và cửa Bắc. Về vật liệu thì triều Nguyễn đã cho sử dụng lại gạch vồ thời trước để xây thành.

 

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 2 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Hình 2: Thành Hà Nội thời Nguyễn
(Nguồn: [4: 138])

Quảng Trị thời Nguyễn được dùng làm Dinh (tỉnh) trực thuộc Kinh sư vào năm 1808 và cho đắp thành lũy. Thành được đắp bằng đất tại địa phận xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng. Đến năm 1837 thì thành được xây bằng gạch4 . Vị trí thành nằm trên vùng đất cao, ngay vị trí thành đắp bằng đất cũ nhưng được “nhân cũ sửa lại” [16: 425]. Năm Tự Đức thứ 6 (1853) thì tỉnh Quảng Trị bị bỏ để làm đạo thành, nhưng sau đó lại quay lại tỉnh thành vào năm 1876.

Tổng thể thành Quảng Trị có dạng hình vuông, gồm hai vòng thành và mang kiến trúc kiểu Vauban. Bốn góc thành nhô ra dùng làm bốn pháo đài có hào thành bao quanh. Thành có bốn cửa (cổng) ra vào. Mỗi cửa thành đều có chiếc cầu bắc qua hào thành. Chu vi thành khoảng 2046,8m, tường thành cao 4,25m [16: 137]5 . Cửa thành bằng gạch, gồm hai tầng: tầng 1 là phần nền có lối ra vào dạng vòm cuốn và tầng 2 là vọng lâu lợp ngói âm dương.

Nội thành gồm có các công trình kiến trúc cho bộ máy hành chính tỉnh Quảng Trị theo chế định của triều Nguyễn. Công trình quan trọng nhất là hành cung (nơi vua nghỉ ngơi mỗi lần ngự giá) có quy mô gồm một tòa 3 gian – 2 chái, sau có dựng thêm hai tòa nhà 5 gian – 2 chái ở hai bên. Trước hành cung là kỳ đài và phía sau là khu vực công đường. Khu vực công đường này gồm có dinh tuần phủ, dinh án sát, dinh bố chánh, dinh lãnh binh, nhà kiểm học, trại quân, nhà bếp, nhà kho, khám đường và nhà ngục. Kiểu mẫu, cách thức xây dựng những công trình này được quy định theo chế định của vua Minh Mạng vào năm 1832 [16: 321-322]. Đến năm 1834 thì một số công trình được nâng cấp mở rộng thêm theo chỉ dụ của vua Minh Mạng.

Sau năm 1885, người Pháp đã xây dựng một số công trình bên trong thành Quảng Trị. Bản đồ thành Quảng Trị do Nguyễn Thứ vẽ năm 1889 cho thấy ngoài những công trình cũ được xây dựng thời Nguyễn thì đã có nhiều công trình xây mới như nhà lao, bốt gác, kho lương thực, bưu điện và đồn cảnh sát (hình 3).

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 3 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Hình 3: Thành Quảng Trị năm 1899 (Nguồn: BAVH, tập XVI, NXB Thuận Hóa 2003, tr. 60)

Phủ thành và huyện thành thời Nguyễn

Thời Nguyễn, dưới tỉnh có phủ, huyện và châu. Ở phủ, huyện, châu có thể xây dựng một công trình phòng vệ là một tòa thành nhỏ. Tòa thành này có thể kiên cố hoặc cũng có thể chỉ là hàng rào tre có hào bọc xung quanh. Nhìn chung các thành phủ và thành huyện phần lớn đắp đất (chỉ có bốn huyện Lục Ngạn, Kim Hoa, Việt Yên, và Gia Bình xây gạch, huyện Hiệp Hòa thì xây đá ong) và được xây theo quy định của Bộ Công: Thành phủ ngoài cao 9 thước, trong cao 6 thước, giữa lấp đất. Mặt dày 7 thước 7 tấc, chân dày 7 thước 9 tấc. Thành huyện cao 8 thước 5 tấc, trong cao 5 thước 5 tấc, giữa lấp đất. Mặt dày 6 thước 3 tấc 5 phân, chân rộng 6 thước 5 tấc [16: 101].

Về sau, vua định lại quy thức thành xây gạch ở các phủ huyện, rồi hạ lệnh cho giám thành cứ theo kiểu mẫu, số trượng, số thước, vẽ thành bản đồ do Bộ Công ấn triện vào và đưa cho các địa phương. Từ sau trở đi, hễ thành nào xây thì theo quy thức mới trên mà làm [16: 198]. Hình dáng các thành này phổ biến có dạng hình vuông và hình lục giác (thành Bắc Ninh).

Đồn và pháo đài

Đồn và pháo đài thời Nguyễn thường được xây bằng gạch, đá với quy mô khá nhỏ vì là nơi đặt pháo súng để trấn thủ. Đồn và pháo đài thường có dạng hình tròn, bán nguyệt hoặc hình vuông. Ví dụ pháo đài Trấn Hải được xây tại cửa biển Thuận An vào năm 1813. Pháo đài này có dạng hình tròn và chu vi thành bao quanh là 71 trượng 2 thước, tường cao 15 thước.

Đặc trưng kiến trúc các công trình bên trong thành

Xét một cách tổng quan thì hầu hết các công trình trọng yếu bên trong thành quách dưới thời Nguyễn như hành cung, dinh, thường có kết cấu bằng gỗ (trừ kỳ đài và cột cờ). Các công trình này đều được xây dựng dựa trên các định chế do triều Nguyễn ban hành. Ví dụ: Nhà phan vọng (nơi các quan văn võ chầu mừng) ở các tỉnh thành thường là nhà 3 gian 2 chái, hành cung có thể 5 gian 2 chái hoặc 3 gian 2 chái. Ở thành Quảng Trị, nhà hành cung có quy mô 3 gian 2 chái, bốn mái xung quanh, bề ngang 3 trượng 6 tấc, dài 5 trượng 5 thước 1 tấc [16: 321]. Thời vua Minh Mạng thứ 7 thì cho xây hai nhà tả hữu phía trước hành cung mỗi tòa 5 gian 2 chái. Dựng thêm một tòa nhà trước ở trước hành cung 7 gian 2 chái và 2 tòa nhà tả hữu 5 gian 2 chái và cả sở trại quân, để phòng vua đi tuần chơi đóng lại để nghỉ chân [11: 54]. Phía sau hành cung là cơ quan công đường, nơi ở và làm việc của các quan lại thuộc bộ máy hành chính của tỉnh như dinh Tuần phủ, dinh Án sát, dinh Bố chánh, dinh Lãnh binh, … Các công trình này đều có hệ kết cấu kiểu nhà rường, khung gỗ lim hoặc kiền, mái ngói liệt, xung quanh thường xây tường hoặc ván gỗ. Nền bằng gạch vồ hoặc gạch Bát Tràng. Quy mô các công trình này được quy định theo luật thời vua Minh Mạng năm 1832 [16: 321-322].

Hệ kết cấu gỗ các công trình bên trong tỉnh thành giai đoạn này (vua Gia Long và vua Minh Mạng) thường có những dạng sau (xem thêm ở [10, Phụ lục III]):

  • Trùng thiềm điệp ốc (hay Trùng diêm trùng thiềm): dạng này có hai mái (trước và sau) thường sử dụng với chức năng của cung điện, miếu điện hay tẩm điện và đóng vai trò là kiến trúc chủ (chính) trong một quần thể tổ hợp các công trình kiến trúc (hình 4). Những công trình được xây theo dạng này có thể kể đến như điện Thái Hòa (kiến trúc chủ của Hoàng thành), điện Minh Thành (kiến trúc chủ của lăng Gia Long), điện Sùng Ân (kiến trúc chủ của lăng Minh Mạng). Kết cấu chủ đạo là hệ khung gỗ gồm hai ngôi điện hợp thành thường gọi là Tiền điện & Chính điện, bộ vì từ 8 đến 10 hàng cột, hệ mái được chia làm hai tầng gồm 12 mái. Mái lợp ngói hoàng lưu ly (đối với công trình dành cho vua) hoặc thanh lưu ly. Trên nóc mái trang trí các mô tip như “Lưỡng long tranh châu”, “Lưỡng long chầu nguyệt”,… Đây là thể loại kiến trúc có thứ bậc cao nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình Nguyễn hiện còn.
    tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 4 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
    Hình 4: Thể loại kiến trúc “Trùng thiềm điệp ốc” (Nguồn: [10])
  • Mái đơn – Thượng thu hạ thách: dạng này có một mái, thường được sử dụng cho những công trình phụ, bổ trợ cho các công trình kiến trúc chủ như Tả/Hữu Vu ở lăng Gia Long, Tả/Hữu phối điện, Đông/Tây phối viện ở lăng Minh Mạng, Thổ Công từ (Thế Miếu) hay điện Long Đức (Thái Miếu)… Mái lợp ngói ống hoặc ngói âm dương. Kết cấu chủ đạo là hệ khung gỗ, bộ vì từ 4 đến 6 hàng cột, hệ mái một tầng hoặc hai tầng, bốn mái hoặc 8 mái tùy theo mức độ quan trọng của công trình (hình 5 & 6). Ngoài ra, những công trình có thứ bậc thấp hơn nữa như Thần Trù (Thế Miếu) cũng được xếp trong thể loại này bởi vì sự đồng nhất của sơ đồ kết cấu hệ khung và mái có hai tầng thu nhỏ về phía trên (Thượng thu hạ thách).
  • Lâu các: Đây là những công trình có hai tầng trở lên với hệ kết cấu gỗ có bộ vì từ sáu đến tám hàng cột, tám đến 12 mái tùy theo số tầng là hai hay ba. Trên nóc mái cũng thường có những trang trí “Lưỡng long vờn châu”, “Lưỡng long chầu nhật”,… Các hộc tường có những hoa văn họa tiết như “Tứ linh”, “Long – Phụng”,… Một số công trình thời Nguyễn thuộc dạng này như Minh lâu (lăng Minh Mạng), Hiển Lâm các (Thế Miếu) và Thông Minh đường/Tịnh Minh lâu (cung Diên Thọ) (hình 7).
    tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 7 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
    Hình 7: Thể loại kiến trúc Lâu các (Nguồn: [10])
  • Môn lâu: Thường sử dụng làm các cổng chính của một khu vực quan trọng trong quần thể kiến trúc lăng tẩm, Kinh thành như Ngọ môn (cổng chính Hoàng thành), tam quan và Hiển Đức môn (cổng chính khu vực tẩm của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng). Kết cấu chính là gỗ, bộ vì thường có bốn hàng cột, cao hai tầng với tám mái (trừ Ngọ môn có bộ vì tám hàng cột, hai tầng 48 mái) (hình 8).
    tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 8 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
    Hình 8: Thể loại kiến trúc Môn lâu (Ngọ môn)

Kết luận

Thành thời Nguyễn giai đoạn vua Gia Long và Minh Mạng gồm có Đô thành (Kinh thành), Trấn – Tỉnh thành, Huyện thành, Phủ thành, Đồn và Pháo đài. Nhìn chung, thành thời Nguyễn đắp đất rồi ốp gạch, nền thường lát đá Thanh. Kích thước thành phụ thuộc vào quy mô cơ quan hành chính là Đô, Trấn, Tỉnh, Huyện,… Các thành đều xây theo kiểu kiến trúc Vauban, thường có hình vuông. Một số thành khác có dạng hình lục giác, bán nguyệt hoặc hình tròn. Xung quanh thành có hào, trên có chỗ đặt các pháo đài.

Đối với các công trình bên trong thành, kết cấu các công trình kiến trúc thời Nguyễn giai đoạn này thường là hệ khung gỗ chịu lực, kiểu nhà rường. Hệ kết cấu gỗ này làm bằng gỗ lim hoặc kiền và thường có những dạng sau: Trùng thiềm điệp ốc, Mái đơn-thượng thu hạ thách, Lâu các và Môn lâu. Hệ khung gỗ có thể để mộc hoặc sơn son thếp vàng trang trí. Tường bằng gạch hoặc ván gỗ. Vật liệu xây dựng nền móng thường là gạch vồ hoặc gạch Bát tràng. Mặt ngoài và phần chân tường hoặc thành thường ốp đá thanh (có thể thấy ở Kinh thành Huế. Mái các công trình này thường lợp bằng ngói ống, ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly đối với công trình quan trọng. Đối với công trình có thứ bậc thấp hơn thì lợp bằng ngói âm dương, ngói liệt, hoặc mái tranh. Trên nóc mái thường được trang trí các mô típ đặc trưng thời Nguyễn như “Lưỡng long chầu nguyệt”, “Lưỡng long tranh châu” và “Lưỡng long triều nhật”. Ở các hộc trang trí thì thường có những họa tiết như “Tứ linh”, “Long – phụng” và “Bát bửu”. Những trang trí này được đắp bằng vữa vôi hoặc pháp lam.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 9 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Chú thích

  1. Đại học Khoa học, Đại học Huế. Nội dung bài viết dựa trên kết quả chuyên đề 10 của Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo nghị định thư 2014-2016 do PGS. TS. Nguyễn Văn Tận chủ trì.
  2. Vauban là tên của một kỹ sư người Pháp (1633-1707). Ông được bổ nhiệm làm thống chế và thành viên Hàn lâm Viện Khoa học Pháp vào năm 1699 nhờ vào tài năng và trình độ của ông trong lĩnh vực kiến trúc quân sự. Dưới thời vua Louis thứ 14, ông đã đảm nhiệm hàng trăm công trình pháo đài và thành lũy nhằm bảo vệ nước Pháp. Ông là người đã tạo ra kiểu xây dựng phòng thủ quân sự mang tên “thành lũy vững chắc” (fortified city) mà ngày nay mọi người người thường gọi là kiểu thành lũy phòng thủ Vanban.
  3. Một số nghiên cứu đề cập kích thước Hoàng thành Huế là 604x622m
  4. Phần lớn các tài liệu trước đây đều cho rằng thời điểm thành được xây gạch là vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837). Tuy nhiên, theo [16: 138] và [2: 62] thì thành Quảng Trị xây bằng gạch vào năm Minh Mạng thứ 8 (1827).
  5. Các tài liệu của triều Nguyễn như Khâm định đại nam hội điển sự lệ, Đại nam nhất thống chí, và Đồng Khánh dư địa chí, hay những nghiên cứu trước đây, khi đề cập về kích thước thành Quảng Trị hiện vẫn không thống nhất.

TS. KTS. Nguyễn Ngọc Tùng – NCS. Võ Ngọc Đức – PGS. TS. Nguyễn Văn Tận
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2018)

Tài liệu tham khảo
[1] A. Laborde (1921). Tỉnh Quảng Trị. B.A.V.H, tập VIII. NXB Thuận Hóa 2001, tr. 185-213.
[2] Đỗ Bang (1982). Thành cổ Quảng Trị. Tạp chí Khảo cổ học, Số 3, tr. 61-65.
[3] Đỗ Bang (2011). Hệ thống phòng thủ miền trung dưới triều Nguyễn. NXB Văn hóa – thông tin.
[4] Đỗ Văn Ninh (1983). Thành cổ Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, tr. 129-173.
[5] L. Cadière và H. Cosserat (1929). Các đồn binh ở Quảng Trị và Quảng Bình vào năm 1885 – 1890. B.A.V.H, tập XVI. NXB Thuận Hóa 2003, tr. 5-32.
[6] Lê Thị Thủy. Phòng thủ Quảng Trị dưới triều Nguyễn. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Khoa Xã hội nhân văn – Đại học Phú Xuân Huế.
[7] Nguyễn Đình Toàn (2011). Kiến trúc Việt Nam qua các triều đại. NXB Xây Dựng, tr. 141-204.
[8] Nguyễn Khắc Ngữ (1981). Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam. Tủ sách nghiên cứu sử địa, tr. 287-273.
[9] Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (1999). Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn. NXB Thuận Hóa.
[10] Nguyễn Văn Tận, Hoàng Văn Hiển, Đặng Minh Nam, Võ Ngọc Đức, Nguyễn Quang Tuấn, Lê Vĩnh An, Mai Khắc Ứng (2013). Nghiên cứu, xây dựng cứ liệu khoa học phục vụ trùng tu, phục hồi và tôn tạo cụm di tích Văn Thánh, Võ Thánh trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin. Trường Đại học Khoa học Huế: Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo nghị định thư 2010-2013.
[11] Nội các triều Nguyễn. Khâm định Đại nam hội điển sự lệ, tập 13. Viện Sử học. NXB Thuận Hóa 1993.
[12] Ô. Jabouille (1921). Một trang viết về lịch sử Quảng Trị tháng 9-1885. B.A.V.H, tập X. NXB Thuận Hóa 2002, tr. 433-477.
[13] Phan Thuận An (1999). Kinh thành Huế. NXB Thuận Hóa.
[14] Phan Tiến Dũng (2004). Một số quy chế về xây dựng dưới thời Nguyễn (1802-1884). Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 11, tr. 10-18.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Ðại Nam thực lục chính biên, tập 4, 5. Nxb Sử học, Hà Nội.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Ðại Nam thực lục tập 3. Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, tập 1. Viện sử học phiên dich và chú giải. NXB Thuận Hóa 2006.
[18] Sở văn hóa thông tin – bảo tàng Quảng Trị (2004). Thành cổ Quảng Trị. Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị, tr. 57-69.
[19] Nguyen Ngoc Tung, Hirohide Kobayashi and Masami Kobayashi (2011). Effect of Hue Citadel on the Layout of Traditional Garden Houses Located in its Area, Vietnam. Journal of Civil Engineering and Architecture, USA. Vol. 5: 918-927.
[20] Viện Khoa học công nghệ xây dựng & Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế (2012). Trùng tu tôn tạo các cổng Kinh thành Huế.

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC THỜI NGUYỄN

Nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn

1. Kinh thành Huế:

– Gồm 3 phần: Phòng Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Kinh thành xây dựng trong 30 năm (1803-1832), thành có 10 cửa chính để ra vào.

– Kinh thành nằm bên bờ sông Hương là một quần thể kiến trúc rộng lớn và đẹp nhất nước ta thời đó.

– Năm 1802 vua Gia Long khởi công xây dựng Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, năm 1805 mới bắt đầu xây dựng kinh thành, quy mô diện tích rất lớn 520 ha, chu vi 10km. Đặc biệt vận dụng kiểu kiến trúc phòng ngự Vauban của Pháp. Phòng thành Huế tạo những đường zích zắc, gồm các hệ thống: lũy, pháo đài, giác bảo, đoạn thành nối hai pháo đài, tường bắn, phản pháo, phòng lô, hào, thành giai… Đây là một loại thành lũy được áp dụng ở nhiều địa phương nước Pháp và các nước lân cận. Khi xây dựng kinh thành, 8 làng phải dời đi và hai đoạn nhánh sông Hương là Bạch Yến và Kim Long đã bị lấp. Vòng thành có 10 cửa lớn đường bộ, hai đường thủy và kỳ đài, thành cao 6,6m; rộng 21m xây gạch bên ngoài kiên cố, có dãy hào sâu gọi là Hộ Thành Hà. Trong kinh thành còn có những công trình kiến trúc: Lục Bộ, Nha Viện, Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán. Quần thể kiến trúc Hồ Tịnh Tâm, Khâm Thiên Giám, Trấn Bình Đài, Tàng Thơ Lâu, Kỳ Đài …

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 10 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 11 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 12 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 13 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 14 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Khởi công xây dựng năm 1805, kinh thành Huế được quy hoạch bên bờ bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha có 10 cửa chính gồm:

– Cửa chính Bắc (còn gọi là cửa hậu, nằm ở mặt sau kinh thành);

– Cửa Tây Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây);

– Cửa chính Tây;

– Cửa Tây Nam bên phải kinh thành);

– Cửa chính Nam (còn gọi cửa nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố, nhà để đồ binh khí, lập thời Gia Long);

– Cửa Quảng Đức;

– Cửa Thể Nhơn (tức cửa ngăn, do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông);

– Cửa Đông Nam (còn gọi là cửa thượng tứ, do có Viện Thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa);

– Cửa chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư này);

– Cửa Đông Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài);

Ngoài ra kinh thành còn có một cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của kinh thành, còn gọi là thành Mang Cá) có tên gọi là Trấn Bình Môn.

Hai cửa bằng đường thủy thông kinh thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông thành thủy quan và Tây thành thủy quan.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 15 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 16 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 17 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

2. Hoàng Thành:

Toàn cảnh Hoàng Thành gần như hình vuông, mỗi cạnh 606m. Trong đồ án hơi lệch về phía Nam kinh thành, có một cửa chính Ngọ Môn (Nam), Hòa Bình (Bắc), Hiển Nhơn (Đông) và Chương Đức (Tây). Theo trục dũng đạo, từ cửa Ngọ Môn vào điện Thái Hòa là nơi thiết đại triều và tiếp sứ thần, có nhiều cầu, hồ liên tục và những phương ngôn bằng đồng nguy nga tráng lệ. Khu vực thờ cúng tổ tiên có: Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, điện Phụng Tiên, cửu đỉnh và các cung Diên Thọ (các bà mẹ vua ở). Cung Trường sanh (các bà nội vua ở) các kho tàng, vườn Thượng uyển … Ngọ Môn và Hiển Lâm Các là hai công trình kiến trúc đồ sộ, độc đáo tuyệt mỹ của kiến trúc truyền thống Huế.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 18 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 19 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 20 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 21 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 22 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 23 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Ở trong lòng Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại nội. Hoàng Thành dùng để bảo vệ các cơ quan lễ nghi, chính trị quan trọng nhất của triều đình và các điện thờ. Tử Cấm Thành bảo vệ nơi làm việc, ăn ở, sinh hoạt hàng ngày cùa nhà vua và gia đình.

Được xây dựng từ năm 1804-1883, Đại Nội có mặt bằng xây dựng theo hình gần vuông, mặt trước và mặt sau dài 622m, mặt trái và phải 604m. Thành xung quanh xây bằng gạch (cao 4,16m; dày 1,04m), bên ngoài có hệ thống hộ thành hào gọi là: Kim Thủy Hồ để bảo vệ thành. Mỗi mặt trổ một cửa để ra vào, Ngọ Môn (trước), Hòa Bình (sau), Hiển Nhơn (trái), Chương Đức (phải). Cửa chính của Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi.

Với hơn 100 công trình kiến trúc đẹp, mặt bằng Đại Nội chia thành nhiều khu vực khác nhau:

– Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hòa làm nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.

– Triệu Miếu, Thái Miếu,Hưng Miếu, Thế Miếu và điện Phụng Tiên là nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.

– Cung Diên Thọ và cung Trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái Hậu và Thái Hoàng Thái hậu.

– Phủ Nội Vụ là nhà kho tàng trữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng Hoàng Gia.

– Vườn Cơ Hạ và điện Khâm Văn là nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 24 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 25 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 26 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Thế Miếu được xây dựng trên mặt bằng 1500m2, thờ các vị vua Nguyễn. Phía trước Thế Miếu còn nhiều công trình nghệ thuật khác: Cửu Đỉnh, Hiển Lâm Các …

Xây dựng một lần với Thế Miếu từ 1821-1822 (thời Vua Minh Mạng). Hiển Lâm các xây dựng ngay trước Thế Miếu, trên khối nền cao hình chữ nhật từ dưới bước lên mặt nền trước sau có 9 bậc. Hiển Lâm Các được kiến trúc bằng gỗ theo hình thức cao tầng, chức năng chính được xem như đài kỷ niệm ghi nhớ công lao các vua triều Nguyễn thờ ở Thế Miếu và các đại thần có công thờ hai bên tả Tùng Tự và Hữu Tùng Tự.

Hiển Lâm Các là công trình kiến trúc có giá trị về cả kỹ thuật lẫn thẩm mỹ, kiến trúc thanh tú hài hòa với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 27 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 28 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

3. Cửu Đỉnh:

Cửu Đỉnh đặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ cung đúc tại Huế cuối năm 1835 đầu 1837. Cửu Đỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đình nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước. Điều đó được thể hiện rất rõ ràng trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn chạm nổi trên Cửu Đỉnh. Mỗi Cửu Đỉnh có khắc một tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ Miếu hiệu (tên để thờ cúng) của một vị vua nhà Nguyễn và Cửu Đỉnh đó được xem là biểu tượng của vị vua đó.

Cao Đỉnh (vua Gia Long) ở vị trí chính giữa, Đỉnh hai bên trái phải lần lượt là: nhân Đỉnh (Vua Minh Mạng), Chương Đỉnh (Vua Thiệu Trị), Anh Đỉnh (Vua Tự Đức), Nghị Đỉnh (Vua Kiến Phúc), Thuần Đình (Vua Đồng Khánh), Tuyên Đỉnh (Vua Khải Định), Huyền Đỉnh (chưa tượng trưng cho ông vua nào cả, mặc dù triều Nguyễn cón có 6 vị vua khác).

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 29 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 30 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 31 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

Cung Diên Thọ là một hệ thống kiến trúc cung điện quy mô nhất còn lại tại cố đô. Cung Diên Thọ gồm có hơn 10 tòa nhà được bố trí trong khuôn viên tường thành bao bọc hình chữ nhật rộng khoảng 100m, dài gần 150m. Tòa nhà chính nằm giữa dành làm nơi mẹ vua nghỉ và tiếp khách. Ở đây chỉ cón cung Diên Thọ, Điện Thọ Ninh,Tạ Trường Du, Am Phước Thọ và lầu Tịnh Minh. Cung Diên Thọ được xây từ năm 1804 và qua nhiều lần đổi tên.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 32 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 33 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

4. Tử Cấm Thành:

Có mặt bằng cũng gần vuông, cao 3,7m, mặt trước và sau dài 324m, mặt trái và phải dài 290m. Quanh thành trổ 10 cửa. Đại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua ra vào, hiện nay đã hư hại hoàn toàn. Bức hình phóng to rộng dăng ngang sau lưng Điện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) là dấu hiệu cho biết thế giới sau nó chỉ dành riêng cho vua và gia đình.Trong đó có hàng trăm cung nữ hàng chục Thái giám thường trú để phục vụ hoàng gia. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc vàng son lộng lẫy bao gồm: Điện Càn Thành (nơi vua ở), điện Khôn Thái (nơi vợ chính vua ở), Duyệt Thị Đường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách), Điện Quang Minh (nơi ở các hoàng tử), điện Trinh Minh (nơi các hoàng hậu ở), điện Kiến Trung, vườn Cẩm Uyển…

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 34 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 35 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này

>> Nghệ thuật kiến trúc thời Lý

Ngọ Môn – Tuyệt tác kiến trúc triều Nguyễn ‘chứng kiến’ nhiều biến động lịch sử

Cùng với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử khác, Ngọ Môn Huế được xem là công trình hội tụ đủ những giá trị về lịch sử, văn hóa và kết tinh của tuyệt tác kiến trúc triều Nguyễn.

Ngọ Môn là cổng chính nằm ở phía Nam của Hoàng Thành Huế. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi chép, Ngọ Môn được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833), khi triều Nguyễn tổ chức quy hoạch lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng thành.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 36 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Hình ảnh Ngọ Môn Huế bị hoang tàn sau biến cố Mậu Thân. Ảnh tư liệu.

Về tổng thể, Ngọ Môn được chia làm hai phần chính gồm phần nền đài và lầu Ngũ Phụng.

Phần nền đài có bình diện hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m, cạnh bên dài 27,06m. Đài xây bằng gạch, đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau.

Đài cao gần 5m, diện tích chiếm đất hơn 1.560m2 (kể cả phần trong lòng chữ U). Thân đài trổ 5 cửa, trong đó cửa chính giữa là Ngọ Môn, cửa này chỉ dành cho vua đi.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 37 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 38 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Nhìn từ xa, Ngọ Môn là một công trình tổng thể mang đậm nét độc đáo về kiến trúc và văn hóa triều Nguyễn.

Hai cửa bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho các quan văn, võ theo cùng trong đoàn ngự đạo. Hai cửa ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U được gọi là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu.

Lầu Ngũ Phụng đặt ở phía trên đài, được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15m và cũng chạy suốt thân đài hình chữ U.

Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẵn 100 cây cột. Theo nhiều nhà nghiên cứu, con số 100 biểu trưng cho sự hài hòa “âm dương nhất thể”, hay ý kiến khác lý giải rằng đó là biểu trưng của sức mạnh trăm họ (bách tính).

Phần mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang. Mái tầng trên chia thành 9 bộ. Trong đó, bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói ống màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói ống màu xanh. Phía trước chính giữa là hệ thống cửa thượng song hạ bản, xung quanh và phía sau nong ván, trên đó trổ nhiều cửa sổ với hình dáng rất phong phú và đa dạng như hình tròn, hình quạt, hình khánh…Các bờ nóc, bờ quyết, hồi mái được trang trí bằng nhiều chi tiết hoa văn tinh xảo.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 39 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Một góc lầu Ngũ Phụng – nơi vua ngự xem các hoạt động.
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 40 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Kiến trúc Ngọ Môn là một kiệt tác nghệ thuật.

Một số nhà nghiên cứu về kiến trúc cung đình triều Nguyễn đánh giá, chính nhờ sự kết hợp, sắp đặt tài tình cộng với bàn tay khéo léo và đôi mắt thẩm mỹ cao của các nhà kiến trúc thời Nguyễn mà tổng thể Ngọ Môn tuy đồ sộ, nguy nga, nhưng lại không hề thô cứng, đơn điệu mà ngược lại rất mềm mại, tráng lệ và đầy vẻ uy nghi.

“Ngọ Môn xứng đáng được liệt vào hàng những công trình kiến trúc nghệ thuật xuất sắc nhất của triều Nguyễn nói riêng và của nền kiến trúc cổ Việt Nam nói chung”, trong cuốn Kiến trúc Cố đô Huế, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đánh giá.

Biểu tượng của Huế “chứng kiến” nhiều biến động

Cùng với cầu Trường Tiền, Phu Vân Lâu…, với hệ thống kiến trúc độc đáo, Ngọ Môn từ lâu được xem là biểu tượng của Huế.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 41 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 42 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Chuông trống dùng trong các lễ hội đặt trên lầu Ngũ Phụng.

Ngọ Môn ngoài chức năng là cổng chính ra vào Hoàng Cung thì đây còn là một lễ đài trong nhiều sự kiện trọng đại của triều đình. Đây là nơi vua ngự xem duyệt binh, dự các lễ Truyền lô – xướng danh các sĩ tử thi đỗ tiến sỹ, lễ Ban sóc (ban bố lịch vào năm mới cho cả nước).

Đặc biệt vào năm 1945, chính tại nơi đây, vua Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm lại cho chính quyền cách mạng và chính thức nền phong kiến Việt Nam cáo chung.

Mặc dù là công trình kiến trúc mang tính lịch sử, văn hóa của triều Nguyễn nhưng dưới sự tác động của thời gian và chiến tranh, biểu tượng này nhiều lần xuống cấp, hư hỏng và trải qua nhiều đợt trùng tu, thay mới.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 43 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Trong đó phải kể đến những lần “bế quan” để trung tu dưới thời vua Minh Mạng thứ 20 (1839) và dưới các đời vua Thành Thái, Khải Định.

Năm 1945, sau khi chính quyền phong kiến sụp đổ, hệ thống Kinh thành Huế được chính quyền cách mạng tiếp nhận và tiếp tục trùng tu, sửa chữa vào các năm 1956, 1963.

Năm 1968, trong biến cố Mậu Thân, Ngọ Môn nằm trong trọng tâm của vùng chiến sự nên đã bị hư hại nghiêm trọng, đặc biệt là Tả – Hữu Dực Lâu. Ngoài ra, hệ lan can chung quanh lầu cùng với hệ lan can hồ Ngoại Kim Thủy cũng đã bị tổn hại phần lớn.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi nguyen va dac diem cua thoi ky nay 138491 44 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Nguyễn và đặc điểm của thời kỳ này
Hình ảnh Ngọ Môn lung linh sắc đèn vào mỗi đêm.

Sau ngày đất nước được thống nhất, xác định đây là công trình mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa lớn của dân tộc được vinh danh di sản văn hóa thế giới, Ngọ Môn tiếp tục nhận được sự quan tâm và trải qua nhiều giai đoạn trùng tu, phục hồi, giữ lại vẻ đẹp uy nghi, tráng lệ ban đầu.

Với những giá trị về lịch sử, kiến trúc, sự kết tinh của tinh hoa và cả tâm hồn người Việt, Ngọ Môn được người dân xem như đại diện tiêu biểu cho những giá trị của xưa cũ vẫn còn hiện hữu và gắn bó trong tâm hồn người dân xứ Huế.

 

Theo Quang Thành/Vietnamnet.vn

Tham khảo thêm:
– Kiến trúc thờ Lê Trung Hưng: https://kientrucsuvietnam.vn/kien-truc-thoi-le-trung-hung/
5/5 - (3 bình chọn)
author-avatar

Kiến trúc sư Phan Đình Kha

Kiến trúc sư Phan Đình Kha với 15 năm kinh nghiệm, hơn 1000 công trình, đoạt giải nhất kiến trúc quốc gia 2010 (Công trình: Nhà ga hành khách cảng hàng không Liên Khương, giải nhất Kiến trúc quốc gia 2010. Nhóm thiết kế: KTS Lưu Hướng Dương, KTS Trần Trung Vương, KTS Nguyễn Thị Quỳnh Nga, KTS Phan Đình Kha). Các thiết kế của anh như Cảng hàng không Liên Khương – Đà Lạt, Bệnh viện Phú Mỹ (TP.HCM), khách sạn 4 sao Phú Mỹ – Sóc Trăng. Nhà hàng Miss Sài Gòn. Homestay Đà Lạt của vợ chồng danh hài Trường Giang – Nhã Phương.
Tham khảo:
- https://ashui.com/mag/chuyenmuc/kien-truc/4493-nha-ga-hang-khong-lien-khuong-mau-tuong-tuong.html
- https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/cong-bo-giai-thuong-kien-truc-quoc-gia-nam-2010-62481.html
- https://danviet.vn/doc-dao-hai-giai-thuong-kien-truc-quoc-gia-777746293.htm
- https://kienviet.net/2011/03/14/ket-qua-giai-thuong-kien-truc-quoc-gia-2010/
- https://baoxaydung.com.vn/trien-lam-giai-thuong-kien-truc-viet-nam-22261.html

Bài viết cùng chuyên mục