Tổng hợp

Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

kien truc thoi ly - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Những công trình kiến trúc chủ yếu thời kỳ này là kinh thành, cung điện, dinh thự các quan lại, lăng mộ vua chúa và đặc biệt là chùa chiền, đền miếu.

Đặc điểm kiến trúc thời Lý

Kiến trúc thời Lý là một phong cách kiến trúc được phát triển trong thời kỳ nhà Lý (1009-1225) ở Việt Nam. Nó được phát triển dựa trên các phong cách kiến trúc của các triều đại trước đó, nhưng cũng có sự pha trộn với các yếu tố kiến trúc từ Trung Quốc và Ấn Độ.

>> TÌM HIỂU KIẾN TRÚC NHÀ Ở GIAI ĐOẠN XÃ HỘI PHONG KIẾN

Các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ Lý thường có các đặc điểm như tường rào bao quanh, các cửa chính đón khách rộng rãi, các sân và hành lang kết nối các khu vực trong tòa nhà.

Các cột và trụ được thiết kế với các họa tiết độc đáo, thường có các hình thức của rồng, sư tử, chim ưng, hoa văn và các yếu tố thiên nhiên khác.

Các mái nhà thường có các đường nét mềm mại và cong vòng, mang lại cảm giác thoải mái và thư thái.

Một số kiến trúc nổi tiếng của thời kỳ Lý là Đền Ngọc Sơn ở Hà Nội, Tháp Bút ở Huế và Đền Thành ở Ninh Bình.

Các công trình kiến trúc thời Lý có ý nghĩa lịch sử và văn hóa quan trọng trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.

Nhà Lý (chữ Nôm: 茹李, chữ Hán: 李朝, Hán Việt: Lý triều), đôi khi gọi là nhà Hậu Lý (để phân biệt với triều đại Tiền Lý do Lý Bí thành lập) là một triều đại trong nền quân chủ Việt Nam.

Triều đại này bắt đầu khi Lý Công Uẩn lên ngôi vào tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê.

Triều đại này trải qua 9 vị hoàng đế và chấm dứt khi Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 7 tuổi, bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm.

>> Tìm hiểu thêm: Tiêu chuẩn thiết kế Kiến trúc 

Kiến trúc Kinh thành, cung điện 

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Gạch lát nền trang trí hoa cúc, thế kỷ 11-12, được tìm thấy tại Thành cổ Hà Nội.

Đại Việt sử ký toàn thư mô tả việc xây dựng kinh thành Thăng Long thời Lý Thái Tổ như sau[1]:

Xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long, phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, hướng chính nam dựng điện Cao Minh, đều có 3 thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía…

Cấm Thành (nơi ở của vua) có trục đối xứng bắc – nam, điện Càn Nguyên ở trên núi Nùng (Long Đỗ). Nhà Lý cho xây dựng 36 cung, 49 điện ở khu trung tâm Cấm thành Thăng Long[2]. Công trình hoàng thành Thăng Long, qua kết quả khai quật của giới khảo cổ học Việt Nam từ năm 2002 đã cho thấy những dấu tích của nghệ thuật kiến trúc thời Lý. Đó là những công trình mang các đặc điểm[3]:

  • Đẹp và công phu
  • Phong phú về loại hình (từ 3 hàng chân cột tới 6 hàng chân cột một vì)
  • Quy mô rộng lớn (có kiến trúc dài 13 gian vẫn chưa kết thúc trong hố khai quật)
  • Trang trí rất tinh xảo, kết hợp hài hòa giữa các chất liệu gỗ – đá – gạch – đất nung
  • Quy hoạch thống nhất và cân xứng

Việc khai quật khu Hoàng thành Thăng Long ở 18 Hoàng Diệu (Hà Nội) còn giúp các nhà khảo cổ nhận diện mặt bằng kiến trúc tại đây[4]:

  • Chân cột bằng đá, móng trụ sỏi, nền nhà lát gạch vuông, có cống thoát nước
  • Mặt bằng kiến trúc kiểu chữ nhật nhiều gian, có từ 3 cột đến 6 cột, bên cạnh các mặt bằng kiểu lục giác, bát giác

Các sử gia đánh giá kiến trúc hoàng thành Thăng Long đánh dấu bước chuyển biến vượt bậc của nghệ thuật kiến trúc và quy hoạch kinh thành Thăng Long[4].

Bến sông Hồng có điện Hàm Quang, bên hồ Kim Minh có điện Hồ Thiên Bát Giác, trên hồ Dâm Đàm có cung Tây Hồ. Trong kinh thành có các vườn ngự uyển như Xuân Quang, Thượng Lâm, Quỳnh Lâm, Bảo Hoa… Đời Lý Thái Tông làm thêm điện Tuyên Đức, điện Diên Phúc có thềm trước gọi là thềm rồng (long trì), phía đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía tây đặt điện Quang Vũ.

>> Xem thêm: Tìm hiểu phong cách Địa Trung Hải 

Kiến trúc Chùa, tháp, đền, miếu 

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 1 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Mô hình tháp bằng đất nung thời Lý ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Chùa chiền mọc lên khắp nơi và trở thành biểu tượng của sự phát triển Phật giáo rực rỡ thời Lý. Chùa thời Lý được chia làm 3 hạng: Đại, Trung và Tiểu danh lam[2].

Nổi lên các chùa lớn là chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Đọi (Hà Nam). Năm 1049, Lý Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), dựng cột đá ở giữa ao, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột đá. Năm 1105, Lý Nhân Tông cho sửa lại, vét hồ Liên Hoa đài, gọi là hồ Linh Chiểu, ngoài hồ có hành lang chạm khắc chạy xung quanh, lại đào hồ Bích Trì có cầu bắc qua để đi lại…

Thời Lý có nhiều quần thể chùa – tháp lớn. Kiến trúc chùa thời Lý thường có nhiều tầng nền giật cấp, bạt sâu vào sườn núi, cao dần lên đỉnh, chỉ một tầng nền đã có chiều dài 120 mét và rộng 70 mét, tất cả được kè đá và bố cục đối xứng qua trục chính tâm và quy hoạch tổng thể, kết hợp hài hòa giữa chùa và tháp. Trong chùa đặt tượng thờ, đồ thờ với nhiều chất liệu khác nhau, kết hợp cả ba yếu tố thiền, tịnh, mật của các tông phái Phật giáo[5].

Các chùa thường có tháp lớn như tháp Báo Thiên 12 tầng – vài chục mét, tháp Phổ Minh cao 14 tầng – 21 mét, tháp Chiêu Ân 9 tầng, tháp Phật Tích 10 tầng, tháp Sùng Thiện Diên Linh 13 tầng, tháp Vạn Phong Thành Thiện… Các tháp được trang trí tượng tròn, phù điêu bằng đá, đất nung đẹp và nhiều tranh vẽ Phật trên tường và các bức chạm lộng bằng gỗ với chủ đề động vật, thực vật tươi vui[4]

Ngoài chùa, nhà Lý còn xây dựng nhiều công trình khác như đền Đồng Cổ, lầu gác trên núi Cung vua, Văn Miếu – Quốc Tử Giám… Việc xây dựng thời Lý được tuân thủ theo một nguyên tắc quy hoạch của phương thuật địa lý thời cổ cho phù hợp với quy luật tự nhiên, hài hòa cao với cảnh quan xung quanh, tận dụng tối đa lợi thế của môi trường.

Hệ quả là tạo ra sự hòa hợp lâu dài giữa con người với công trình và thiên nhiên[6]. Chùa thời Lý được đặt trong một quần thể kiến trúc, tại những nơi có cảnh thiên nhiên tươi đẹp và có liên hệ cộng đồng dân cư, gần làng sát nước[5].

>> Tham khảo thêm:  https://kientrucsuvietnam.vn/kien-truc-thoi-tran/

Điêu khắc, đúc tượng 

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 2 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Lá đề chạm rồng thời Lý, khai quật tại chùa Phật Tích
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 3 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Tượng Uyên ương bằng đất nung gắn trên ngói
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 4 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Tượng sư tử chùa Bà Tấm (phiên bản của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)

Nghệ thuật điêu khắc thời Lý là một thành tố hiện diện thường trực ngay cả ở những công trình không có tên trong sử sách hay bia đá cổ cũng được trang hoàng uy nghiêm, bài trí lộng lẫy.[7]

Những công trình điêu khắc tinh tế với những tấm phù điêu mô típ hoa văn hoa cúc nhiều cánh, hoa sen, lá cây và đặc biệt là rồng giun mình trơn nằm gọn trong chiếc lá đề. Đặc điểm chung là chân thực, đơn giản, khỏe mạnh.[8] Ngoài hình tượng rồng thời Lý đặc sắc cho nghệ thuật Việt thì nhiều linh vật được tạc tượng thời Lý cũng mang đặc sắc Việt Nam, dù chịu ảnh hưởng của triết lý Trung Hoa nhưng hoàn toàn khác biệt về hình thức, do đã kết hợp hài hòa với nghệ thuật Chăm Pa và Ấn Độ như con sấu, sư tử, phượng hoàng…

Nghệ thuật đúc chuông – tô tượng rất phổ biến. Nước Đại Việt có 4 công trình nghệ thuật bằng đồng nổi tiếng được gọi là “An Nam tứ đại khí” thì 3 trong số đó được tạo ra thời Lý:[8][9][10][11][12][13]

  1. Tháp Báo Thiên còn gọi là Đại Thắng Tư Thiên Tháp, được xây trên một quả gò cạnh hồ Lục Thủy vào tháng 3 năm 1057 đời vua Lý Thánh Tông, trong phạm vi chùa Báo Thiên. Tháp xây 12 tầng, cao mấy chục trượng
  2. Chuông Quy Điền (chùa Một Cột – Hà Nội) đúc năm 1080 thời Lý Nhân Tông.
  3. Tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh) do nhà sư Dương Không Lộ đúc, cao 6 trượng (khoảng 20 mét).

Ngoài ba tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao trên (mà hiện không còn tồn tại), các tác phẩm điêu khắc thời Lý còn lại nguyên vẹn đến ngày nay đều được xem là báu vật của nghệ thuật Việt Nam, phần lớn trong số đó được xếp hạng là bảo vật quốc gia (BVQG):[14]

  • Tượng A-di-đà chùa Phật Tích (BVQG số 22 – đợt 1): tạc năm 1057, cao 2,77 mét, liền với bệ. Nét mặt tượng trầm tư nhưng vẫn rạng rỡ
  • Bộ tượng 10 con thú nằm ở cửa tiền đường chùa Phật Tích (BVQG số 9 – đợt 6)
  • Tượng A-di-đà chùa Ngô Xá (BVQG số 16 – đợt 2): giống tượng chùa Phật Tích nhưng khuôn mặt nam tính, và còn đủ ba bộ phận: tượng, khối cầu sư tử, bệ bát giác
  • Tượng sư tử chùa Hương Lãng (BVQG số 7 – đợt 8) dài gần 3 mét, rộng 1,5 mét có vẻ dũng mãnh
  • Tượng đôi sư tử đá đền – chùa Bà Tấm (BVQG số 8 – đợt 8)
  • Tượng linh điểu (Garuda), người có cánh đánh trống (Kinnari) mang phong cách nghệ thuật Chămpa, nét mặt đẹp dịu dàng, trầm tư
  • Tượng rồng nằm dài theo bậc thềm, tượng người nhảy múa, các loài thú…

Các tượng người hay vật đều sinh động và có hồn; đường cong lớn và dày đặc, nét uyển chuyển mềm mại, dù làm bằng chất liệu nào. Bố cục các tác phẩm điêu khắc đẹp cân xứng, hài hòa.[15]

Đánh giá khái quát 

Thành tựu kiến trúc và điêu khắc thời Lý là kết quả của sự phối hợp giữa 2 yếu tố để phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và tín ngưỡng đương thời[7]:

  1. Sự kế thừa truyền thống người Việt: cân xứng, gọn gàng dung dị; tượng tròn, phù điêu sống động.
  2. Tiếp thu những yếu tố văn hóa ngoại sinh từ Chăm Pa, Ấn Độ, Trung Quốc như hình uyên ương, sư tử, tiên nữ Apsara, thao thiết, makara, chim thần Garuda, nữ thần đầu người mình chim Kinnari, Kim Cương, nhạc công Gandhavar…

Nghệ thuật điêu khắc thời Lý được đánh giá là đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình dân tộc Việt[15].

Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trong giới sử học, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lý góp phần to lớn để sáng tạo ra giá trị của đỉnh cao văn hóa, văn minh thứ hai của người Việt phục hưng.

>> Tham khảo thêm: CẤU KIỆN VÀ KỸ THUẬT KIẾN TRÚC THỜI LÝ – TRẦN 

Hình thái kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lý dưới góc nhìn khảo cổ học (Phần I)

(theo https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/hinh-thai-kien-truc-cung-dien-viet-nam-thoi-ly-duoi-goc-nhin-khao-co-hoc-phan.html) 

Trong lịch sử cổ trung đại, kiến trúc cung điện còn gọi là kiến trúc cung đình, được xây dựng trong các kinh đô nhằm củng cố sự thống trị, thể hiện quyền lực tối cao của hoàng đế, phô diễn đẳng cấp, sự uy nghiêm và thoả mãn sự hưởng thụ cuộc sống tinh thần, cuộc sống vật chất của nhà vua và hoàng gia.

Những công trình kiến trúc này được xây dựng rất kiên cố, công phu, trang trí cầu kỳ, tinh xảo, nghệ thuật trang trí của nó mang đậm dấu ấn và hơi thở của thời đại, được xem là hình ảnh tiêu biểu phản chiếu trình độ khoa học, công nghệ cùng những sắc thái văn hóa riêng biệt hay tương đồng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong lịch sử.

Nằm trong chiếc nôi của nền văn minh châu Á hay nền văn minh phương Đông, kiến trúc cổ Việt Nam cũng giống như kiến trúc cổ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… chủ yếu phổ biến là loại kiến trúc có bộ khung chịu lực bằng gỗ hay gọi là kiến trúc gỗ. Chính vì được làm bằng gỗ, nên phần lớn các công trình đều rất khó bảo tồn nguyên vẹn theo thời gian. Mặt khác, do nhiều nguyên nhân như: Sự di chuyển kinh đô, chiến tranh, hoả hoạn, xây dựng mới ở các giai đoạn sau… đã làm thay đổi hoặc làm mất đi các công trình kiến trúc gỗ cổ xưa, nên ngày nay các nhà khảo cổ học chủ yếu chỉ tìm thấy những phần nền móng của các công trình đó.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 5 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Các hiện vật kiến trúc có hình rồng, phượng được trưng bày trong khu di tích Hoàng Thàng Thăng Long

Những khám phá của khảo cổ học dưới lòng đất tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long trong những năm 2002-2004 và 2008-2009 đã tìm thấy phần còn lại của những tòa nhà kiên cố, thể hiện rõ qua dấu tích nền móng các công trình. Các dấu tích nền móng đó đã được giới khoa học xác định là dấu tích của những kiến trúc cung điện, lầu gác có qui mô to nhỏ khác nhau cùng hệ thống tường bao, cống nước, giếng nước, đường đi lối lại, khẳng định giá trị và tầm quan trọng đặc biệt của khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

>> Tìm hiểu: Kim mộc thuỷ hoả thổ là gì?

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 6 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Các hiện vật kiến trúc có hình rồng, phượng
>> Tìm hiểu thêm:  KIẾN TRÚC THỜI NGUYỄN

Mặc dù, phát hiện khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu đã minh chứng thuyết phục rằng, các cung điện, lầu gác thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long đều là kiến trúc gỗ, có bộ mái lợp ngói rất công phu, tráng lệ, nhưng hình thái kiến trúc cung điện thời Lý vẫn chưa có đủ cơ sở dữ liệu khoa học để nhận diện như kiến trúc Cố Cung – Bắc Kinh (Trung Quốc), Changdokung – Seoul (Hàn Quốc) hay Nara (Nhật Bản). Bởi lẽ, kiến trúc cung điện thời Lý hay thời Trần hoặc muộn hơn là thời Lê đều thuộc loại kiến trúc cổ đã bị thất truyền. Ở Việt Nam hiện nay không còn lưu giữ được một công trình kiến trúc nào của các thời kỳ này.

Kiến trúc gỗ của Việt Nam còn lại đến ngày nay chủ yếu là những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng nằm rải rác ở những làng quê, được xây dựng từ thời Mạc (thế kỷ 16), phổ biến nhất là từ thời Lê Trung hưng (thế kỷ 17-18) trở lại đây. Trong số đó, tuy có một số công trình được xây dựng trên nền của những kiến trúc có từ thời Lý, Trần, nhưng hình thái kiến trúc của nó đã có nhiều thay đổi và mang phong cách của giai đoạn muộn hơn ở một số công trình còn may mắn lưu giữ được một phần cấu kiện kiến trúc của giai đoạn trước, nhưng chủ yếu thuộc thời Trần và không đủ dữ liệu phản ánh về hình thái kiến trúc thời Trần.
Tình hình tư liệu nêu trên cho thấy: Việc nghiên cứu nhận diện hình thái kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lý, Trần là vô cùng khó khăn. Trong đó, khó khăn lớn nhất là thiếu cơ sở dữ liệu về phần giữa và phần trên của công trình kiến trúc, đó là hệ thống khung gỗ và khung giá đỡ bộ mái của các điện, gác, sảnh đường, lầu gác.

Trong bối cảnh quá nghèo nàn về tư liệu kiến trúc, tư liệu sử liệu và bản vẽ kiến trúc cổ của Việt Nam như vậy, từ năm 2011-2015, để có cơ sở đánh giá sâu hơn, toàn diện hơn về di tích kiến trúc trong Hoàng cung Thăng Long, chúng tôi đã đưa ra hướng nghiên cứu về hình thái kiến trúc thời Lý, Trần dựa trên cơ sở dữ liệu mô hình kiến trúc cổ hiện đang lưu giữ tại các bảo tàng ở Bắc Việt Nam, đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu so sánh với các kiến trúc cung điện ở các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Mô hình kiến trúc là hình ảnh mô phỏng về kiến trúc, được xem như là tấm gương phản chiếu khách quan về hình thái kiến trúc Việt Nam đương đại. Tuy nó có những hạn chế nhất định (như: Chưa phản ánh một cách chính xác, toàn diện và đầy đủ về hình thái kiến trúc trong thực tế, chủ yếu thể hiện mặt ngoài của các công trình kiến trúc, không gợi ý kết cấu bên trong của công trình đó), nhưng đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy, rất có giá trị, giúp các nhà khoa học có cơ sở dữ liệu để nghiên cứu giả định về hình thái kiến trúc cổ Việt Nam thời Lý, Trần. Do đó, việc nghiên cứu mô hình kiến trúc đất nung, bao gồm cả những di vật khắc, vẽ hình kiến trúc là hướng tiếp cận nghiên cứu mới, rất quan trọng về hình thái kiến trúc gỗ Việt Nam thời Lý, Trần.

Trong nghiên cứu, đánh giá các công trình kiến trúc gỗ, từ kỹ thuật xây dựng đến hình thái kiến trúc, các chuyên gia kiến trúc thường sử dụng phương pháp tiếp cận nghiên cứu cấu trúc của công trình theo chiều dọc gồm 3 phần: Phần trên, Phần giữa và Phần dưới.1

  • Phần dưới là mặt bằng nền móng của các công trình kiến trúc, bao gồm diện tích đất, phương vị, phương hướng, kết cấu và khoảng cách đặt cột trụ và tỉ lệ của chúng cùng với thềm bậc hay lan can của công trình.
  • Phần giữa là hệ thống bộ khung gỗ chịu lực, số đo của cột trụ, tỉ lệ chiều cao, chiều rộng, chiều sâu của các gian, bao gồm hệ thống cánh cửa, tấm chắn (tường, ván bưng hoặc vách ngăn).
  • Phần trên là hệ thống khung giá đỡ bộ mái, bao gồm các loại ngói lợp và các loại phù điêu, tượng tròn trang trí trên mái.

Từ phương pháp tiếp cận nêu trên và dựa vào kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long, kết quả nghiên cứu mô hình kiến trúc cổ Việt Nam và kết quả nghiên cứu so sánh với các kiến trúc kinh đô cổ ở châu Á trong nhiều năm, bài viết này sẽ giới thiệu những thành tựu nổi bật trong kỹ thuật xây dựng kiến trúc cung điện của vương triều Lý trong Hoàng cung Thăng Long cùng những phân tích và lý giải về những thành tựu nghiên cứu mới về hình thái kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lý.

>> Xem thêm: Tìm hiểu phong cách Indochine

Móng trụ và mặt bằng kiến trúc thời Lý

Những khám phá của khảo cổ học dưới lòng đất tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2002-2004 và 2008-2009 đã tìm thấy một quần thể gồm 53 dấu tích nền móng công trình kiến trúc, 7 móng tường bao, 6 giếng nước, 13 đường cống rãnh tiêu thoát nước minh chứng xác thực lịch sử xây dựng Kinh đô Thăng Long hoa lệ dưới vương triều Lý.

Nhưng bằng chứng của khảo cổ học hôm nay chủ yếu chỉ tìm thấy vết tích còn lại của các kiến trúc cung điện, lầu, gác của thời Lý qua hệ thống nền nhà, móng trụ, chân tảng và sân. Hay nói theo cách khác, đó là phần dưới của công trình. Phần dưới của các công trình đó chủ yếu được nhận diện qua mặt bằng nền nhà bằng đất, có hệ thống móng trụ hình vuông được gia cố bằng sỏi, gạch ngói hoặc mảnh sành, được xếp thành hàng ngang dãy dọc khá qui chuẩn. Mặt bằng có những móng trụ đó được xác định là mặt bằng của các cột trụ của kiến trúc. Đây là thành tựu và cũng là đặc điểm rất quan trọng trong kỹ thuật xây dựng kiến trúc gỗ thời Lý.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 7 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Cung điện thời Lý dưới hầm nhà Quốc hội

Hệ thống móng trụ được gia cố rất vững chắc để kê chân tảng đá đỡ các cột của bộ khung nhà bằng gỗ. Các móng trụ đó có nhiều kích thước khác nhau, trung bình mỗi chiều rộng từ 110cm đến 150cm, được đào sâu từ 150cm đến hơn 300cm xuống lòng đất và gia cố đầm chặt bằng các mảnh ngói, mảnh sành, phổ biến nhất là sỏi sông trộn với đất đồi nhằm chống lún chân cột.

Trong các công trình nghiên cứu trước, chúng tôi đã đưa ra nhận xét rằng: Kỹ thuật gia cố móng trụ là một thành tựu quan trọng của vương triều Lý.2 Nó được phát minh trong điều kiện xây dựng các kiến trúc có qui mô to lớn trên nền đất yếu của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Kỹ thuật dùng sỏi pha cát để lót dưới đáy hố móng cột chôn đã thấy xuất hiện từ thời Đinh – Tiền Lê (thế kỷ 10), nhưng nó được xử lý khá đơn giản. Sang thời Lý, kỹ thuật này đã được xử lý rất hoàn hảo và phát triển trở thành hình mẫu về kỹ thuật xây dựng trong lịch sử kiến trúc cổ Việt Nam.

Bên cạnh móng trụ hình vuông, khu di tích còn tìm thấy nhiều móng trụ hình chữ nhật có chiều dài đủ đặt hai chân tảng kê cột, được gọi là móng trụ kép hay móng trụ cột đôi. Loại móng trụ này chỉ xuất hiện ở những công trình kiến trúc có qui mô nhỏ, nhưng kết cấu bộ khung rất độc đáo.

Việc tìm thấy hệ thống móng trụ kê chân tảng đá và các loại chân tảng đá nêu trên phản ánh rõ: Các công trình kiến trúc cung điện thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long xưa phổ biến là kiến trúc gỗ, thành phần chịu lực chủ yếu là các cột trụ. Do đó, các chân cột thường được chú ý kê đỡ và gia cố với hai thành phần chính là chân tảng và móng trụ như đã nêu trên.

>> TƯỢNG LINH THÚ ĐÁ THỜI LÝ NGHÌN NĂM TUỔI QUÝ GIÁ CỦA CHÙA PHẬT TÍCH

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 8 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Giới thiệu bình vôi và tục ăn trầu

Tại khu di tích đã tìm thấy nhiều cột gỗ đang còn đứng nguyên ở vị trí ban đầu cùng nhiều loại cấu kiện của kiến trúc gỗ. Bằng chứng này không những góp phần khẳng định về sự tồn tại của các công trình kiến trúc gỗ trong Hoàng cung Thăng Long xưa (đúng như sử cũ đã ghi chép) mà còn cung cấp nhiều thông tin quan trọng trong việc nghiên cứu về kiến trúc gỗ Việt Nam trong lịch sử.

Đáng lưu ý, bên cạnh kiến trúc cột dương, bằng chứng về sự tồn tại kéo dài của loại kiến trúc sử dụng cột âm (hay cột chôn) cũng được tìm thấy ở một số công trình kiến trúc thời Lý. Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng là các cột âm thời Lý thường được xây dựng kết hợp với hệ thống cột dương. Những cột âm này đều là hệ thống cột hiên, được chôn sâu xuống lòng đất, dưới chân kê đá tảng lớn và nằm đăng đối xung quang 4 mặt của tòa nhà, trong lòng nhà là hệ thống cột dương được dựng trên các chân tảng đá chạm cánh hoa sen rất khéo léo.3

Dựa vào dấu tích còn lại và sự phân bố qui luật của hệ thống móng trụ, chúng tôi đã xác định, mặt bằng kiến trúc cung điện thời Lý có rất nhiều loại gồm hình chữ nhật, hình vuông, hình lục giác, hình bát giác. Trong đó, kiến trúc có mặt bằng hình chữ nhật là phổ biến nhất với diễn biến kết cấu vì kèo khá đa dạng: 2 hàng cột, 3 hàng cột, 4 hàng cột, 6 hàng cột, 8 hàng cột. Kiến trúc 8 hàng cột là công trình có quy mô to lớn nhất và kiên cố nhất.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 9 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Bức tranh gốm ghép bằng gạch tìm thấy tại hố khai quật

Các công trình kiến trúc nói trên thường là kiến trúc kiểu nhà dài, có nhiều gian, trong đó kiến trúc có số gian chẵn 2 gian, 6 gian, 8 gian, 10 gian; nhiều và phổ biến nhất là kiến trúc có số gian lẻ 7 gian, 9 gian, 11 gian, 13 gian. Ngoài ra, tại khu di tích còn tìm thấy những kiến trúc hành lang kéo dài dọc tường bao hoặc bao quanh các công trình kiến trúc chính ở bên trong.
Số đo bước gian kiến trúc gỗ thời Lý phổ biến có chiều rộng rất lớn, trung bình là 5,7m, kiến trúc lớn thì bước gian rộng hơn 6,0m. Phát hiện năm 2008-2009 tại khu vực Tây Nam khu di tích đã tìm thấy 9 di tích kiến trúc kết cấu 2 hàng cột có bước gian rộng trung bình từ 6,0m đến 7,5m.

Đặc điểm lưu ý là, tất cả các kiến trúc cung điện thời Lý ở đây đều được xây dựng rất thống nhất, qui chuẩn về phương vị và thước đo. Các công trình đều nằm theo trục Bắc – Nam, Bắc lệch Đông khoảng 4-50 và đặc biệt là các số đo chiều dài, chiều rộng, bước gian, bước cột của tất cả các công trình đều có thể chia hết cho 3. Điều này phản ánh chắc chắn rằng: Kiến trúc thời Lý được xây dựng theo một chuẩn mực rất chặt chẽ và được quy hoạch rất bài bản khoa học khi xây dựng. Đây cũng là điều đã từng mang lại sự ngạc nhiên đối với các nhà khoa học trong và ngoài nước khi tiếp cận nghiên cứu về kiến trúc cung điện thời Lý tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long trong nhiều năm qua.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 10 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
chân tảng

Cùng những phát hiện về hệ thống móng trụ, chân tảng và cột gỗ nêu trên, vết tích nền nhà của các kiến trúc cung điện thời Lý cũng được xác định rất rõ ràng. Nền được đắp bằng đất, nhiều chỗ được đắp cùng với phế thải đồ gốm hoặc gạch ngói vỡ. Xung quanh nền bó gạch hình chữ nhật, trên nền lát gạch vuông được làm từ loại đất sét vàng có độ nung rất cao. Nghiên cứu cấu trúc đất đắp nền nhà cho thấy, nền được đắp bằng nhiều loại đất sét và được đem từ nhiều nơi khác đến. Theo các nhà địa chất, các loại đất đắp nền nhà có nhiều khả năng được chuyên chở từ vùng đồi núi thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, nằm khá xa kinh đô Thăng Long. Người xưa đã khai thác và chuyên chở bằng thuyền, đem về tôn tạo xây dựng các công trình trong kinh đô trong nhiều năm. Kỹ thuật tôn đắp và bó nền cho thấy rõ: Các kiến trúc ở đây được xây dựng rất công phu và vững chắc. Xung quanh nhiều kiến trúc còn có hành lang, tường bao, cống nước, giếng nước, đường đi được xây dựng rất qui chuẩn, minh chứng trình độ cao của vương triều Lý trong qui hoạch đô thị. Điều này cũng gợi ý rằng: Để làm được như vậy, vương triều Lý đã phải huy động rất nhiều sức người, sức của khi tiến hành xây dựng và tôn tạo các công trình kiến trúc trong Hoàng cung sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 11 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
Hoàng Thành Thăng Long

Các loại ngói và hình thái bộ mái kiến trúc thời Lý

Bên cạnh dấu tích nền móng các công trình kiến trúc, trong phạm vi rộng lớn của khu khai quật hơn 42.000m2, từ khu A đến khu E, các nhà nghiên cứu tìm thấy rất nhiều loại hình vật liệu kiến trúc, trong đó có nhiều loại ngói lợp mái. Phát hiện này là cơ sở khẳng định: Các công trình kiến trúc trong Hoàng cung Thăng Long xưa đều là kiến trúc gỗ và trên mái được lợp ngói. “Trong kinh thành, tất cả mọi nhà đều làm bằng gỗ” như A. de Rhodes quan sát tại Thăng Long vào giữa thế kỷ 17.4

Nghiên cứu mặt bằng cột trụ và tư liệu mô hình kiến trúc đất nung cho thấy: Cung điện thời Lý có kết cấu 4 mái, hai mái phía trước, phía sau và hai mái ở hai bên hay gọi là mái đầu hồi. Trên mái được lợp bằng loại ngói âm dương và một số lợp loại ngói sen (hay ngói phẳng). Các loại ngói dương chủ yếu là ngói ống và ngói úp với những sắc thái rất đặc sắc.

Ngói ống là loại ngói phổ biến nhất ở thời Lý. Nó có thân nửa hình ống, được lợp bên trên ngói cong nên còn gọi là ngói dương và gồm hai loại rõ rệt: ngói lợp diềm mái (ngói diềm mái) và ngói lợp thân mái (ngói thân mái). Xét về hình dáng, tên gọi và kỹ thuật lợp, loại ngói này được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi ở các công trình kiến trúc gỗ trong khu vực châu Á, từ thời Hán trở đi. Trên các công trình kiến trúc cung điện tại Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc chúng ta đều có thể nhìn thấy phổ biến các loại ngói này. Nhưng điểm rất khác biệt của loại ngói ống diềm mái thời Lý là trên lưng của nó thường được gắn hình một chiếc lá đề cân, bên trong trang trí hình rồng, hình phượng với đường nét tạo tác rất khéo léo và mang tính nghệ thuật rất cao.

Để tạo nên tính thống nhất với trang trí ở phần diềm mái, trên lưng các loại ngói úp thời Lý được gắn hình lá đề lệch trang trí rồng, phượng hay gắn tượng uyên ương (uyên ngõa)5. Đối với ngói úp loại lớn (dùng để lợp ở chính giữa nóc mái) thường được gắn hình lá đề cân có kích thước to lớn, hai mặt trang trí tinh xảo hình rồng hoặc hình phượng. Đặc biệt, loại ngói úp ở hai đầu bờ nóc lại thường được tạo tác dưới dạng phù điêu hay tượng tròn hình đầu rồng, hoặc đầu chim phượng có kích thước khá to lớn với cái cổ cao vươn lên trời, ở đó có những lỗ nhỏ để xâu dây buộc chặt vào bờ nóc mái. Với đặc điểm này, loại ngói úp thời Lý còn được gọi là ngói trang trí mái.

Xét về chất liệu, ngói thời Lý có 2 loại: Ngói đất nung màu đỏ và ngói tráng men (men trắng và men xanh lục), trong đó ngói đất nung màu đỏ là phổ biến nhất, được làm từ đất sét đồi lẫn nhiều đất sét trắng. Ngói tráng men được làm chủ yếu từ loại đất nguyên liệu làm đồ gốm sứ, bao gồm đất sét trắng và thạch anh. Ngói thời Lý rất phong phú, đa dạng về kiểu dáng và kích cỡ, nhưng về chất liệu, kỹ thuật chế tác và phong cách trang trí nghệ thuật (từ khối hình đến đường nét hoa văn) thì lại có tính thống nhất rất cao, thể hiện sự đồng bộ cùng với những qui tắc tạo hình khá chặt chẽ, tạo nên phong cách rất riêng cho kiến trúc Lý.

Hình lá đề gắn trên ngói ống diềm mái hay trên các loại ngói úp nêu trên dường như là một phát minh quan trọng của thời Lý, nó đã tạo nên một sự khởi sắc mới cho nghệ thuật kiến trúc Việt Nam. Nếu nghiên cứu so sánh với các loại ngói ống lợp mái cung điện ở các kinh đô cổ trung đại của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… có thể nói, loại ngói lợp diềm mái và loại ngói úp trang trí rồng, phượng của thời Lý là loại ngói độc đáo nhất trong khu vực châu Á, mang bản sắc riêng của nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. Tại các di tích kinh đô của Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc người ta chỉ nhìn thấy chủ yếu là loại ngói ống có đầu trang trí linh thú hay hoa sen, hoa cúc, chưa có nơi nào có loại ngói ống gắn lá đề trang trí rồng, phượng như Kinh đô Thăng Long.

Cách đây gần 12 năm, khoảng đầu xuân năm 2004, trước yêu cầu của công tác tuyên truyền quảng bá về tầm quan trọng đặc biệt của khu di tích Hoàng thành Thăng Long, dựa trên tư liệu khai quật và tư liệu nghiên cứu các di tích kinh đô cổ ở châu Á, lần đầu tiên chúng tôi đã đưa ra phác thảo giả định về hình thái của bộ mái kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lý, Trần. Tuy nhiên, lúc đó do còn quá thiếu tư liệu nên chúng tôi đã tạm mượn hình ảnh mái đình thời Lê Trung hưng để diễn giải về chức năng và những sắc thái riêng biệt của các loại ngói lợp mái kiến trúc cung điện thời Lý, Trần.

Kể từ đó đến nay, thành tựu nghiên cứu về chức năng cũng như kỹ thuật chế tác, kỹ thuật lợp của từng loại ngói thời Lý, Trần đã có những bước tiến rất dài, khẳng định và làm rõ hỡn những nhận thức cơ bản của chúng tôi đã đưa ra từ năm 2004. Đồng thời, trong nhiều năm qua, bên cạnh công tác phân loại, nghiên cứu các loại hình vật liệu kiến trúc thời Lý, Trần tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long, chúng tôi cũng đã đầu tư nghiên cứu so sánh để ngày một nhận diện rõ hơn về hình thái của bộ mái kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lý. Trong năm 2014-2015, chúng tôi đã cơ bản hoàn thành chương trình nghiên cứu này với những bản vẽ giả định được thể hiện công phu về các loại ngói trang trí trên mái kiến trúc cung điện thời Lý và hy vọng nó sẽ mang lại cho giới khoa học và công chúng nhận diện rõ hơn về vẻ đẹp và nét độc đáo của kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lý.6

Nếu những bản vẽ giả định của chúng tôi phản ánh đúng hoặc gần đúng với hình ảnh hiện thực của kiến trúc cung điện thời Lý đương đại thì đó là điều hạnh phúc lớn. Bởi đây là điều mơ ước từ lâu của giới khoa học kể từ sau khi phát lộ khu di tích Hoàng thành Thăng Long và cũng là kỳ vọng của công chúng mong muốn được chiêm ngưỡng hình dáng kiến trúc cung điện trong Hoàng cung Thăng Long xưa. Những dấu vết nền móng và những loại ngói lợp mái tìm thấy tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã cho chúng ta một ý niệm về hình thái kiến trúc cung điện thời Lý, làm cho chúng ta luyến tiếc về những công trình kiến trúc gỗ độc đáo và rộng lớn từng tồn tại trong Hoàng cung Thăng Long dưới vương triều Lý với bộ mái rất đặc sắc mà hiếm nơi nào có được.

1. Phan Cốc Tây và Hà Kiến Trung 2005: Doanh tạo pháp thức – Giải độc, Nxb. Đại học Đông Nam, Nam Kinh, Trung Quốc.
2. Tống Trung Tín – Bùi Minh Trí 2007: Về một số dấu tích kiến trúc trong Cấm thành Thăng Long thời Lý – Trần qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học năm 2005 – 2006, Khảo cổ học, số 1, tr. 58-70.
3. Bùi Minh Trí 2015: Kiến trúc thời Lý ở khu A-B, khu di tích Hoàng thành Thăng Long – Những thành tựu sau 10 năm nghiên cứu, Thông báo Khoa học – Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Hà Nội, tr. 19-63.
4. A. de Rhodes: Historie du Royame de Tonquin (1627-1646), Revue Indochinoise, 1908, p.179.
5. Trong văn bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi thời Lý, tạo năm 1118, có ghi chép về loại ngói trang trí hình uyên ương gọi là “uyên ngõa”. “Quán kỳ ẩm thủy hồng lương nhi hồi xuất, lâm phong uyên ngõa nhi dực phi” nghĩa là “trông kìa: rường cầu vồng uống mưa hồi xuất, ngói uyên ương đón gió muốn bay” (theo Phan Lê Huy, 2016 Cấu kiện và kiến trúc thời Lý – Trần nhìn từ nguồn tư liệu chữ viết đồng đại, Kỷ yếu Tọa đàm khoa học quốc tế “Nhận diện kiến trúc Việt Nam thời Lý – Trần qua tư liệu khảo cổ và sử liệu”, do Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành tổ chức tại Hà Nội ngày 22-24/2/2016).
6. Bản vẽ hình thái bộ mái kiến trúc cung điện thời Lý giới thiệu ở đây được thiết lập từ mặt bằng của một khuôn viên kiến trúc thời Lý tìm thấy dưới lòng đất khu vực xây dựng Nhà Quốc hội năm 2008-2009.

>> Tìm hiểu thêm:  KIẾN TRÚC ĐÌNH CHÙA VIỆT NAM

Kỳ sau: Hệ khung đỡ mái của kiến trúc cung điện thời Lý

PGS.TS. Bùi Minh Trí

Ðôi nét về kiến trúc Phật giáo thời Lý

Vương triều Lý (1009-1225) được xem như là giai đoạn mở đầu cho thời kỳ hưng thịnh lâu dài của phong kiến Việt Nam về chính trị – kinh tế cũng như về văn hóa – nghệ thuật. Sau một nghìn năm Bắc thuộc, nhà Lý quyết tâm xây dựng một nền độc lập lâu dài với một niềm tự hào tự tôn dân tộc, với khát vọng Ðại Việt cũng có thể sánh ngang hàng với Ðại Ðường, Ðại Tống ở Trung Hoa.

Tiếp nối tinh thần Phật giáo từ các triều đại trước, Phật giáo thời Lý trở thành quốc giáo và phát triển mạnh mẽ. Có lẽ tinh thần từ bi, bác ái của Phật giáo hòa hợp với tinh thần ôn hòa, bình dị của người Việt. Theo Ðại Việt sử ký toàn thư thì thời ấy, nhân dân ‘lũ lượt đi ở chùa’. Mọi người làm việc gì cũng nghĩ đến sự phù trợ của Ðức Phật, Lý Thường Kiệt sau khi đánh Tống, bình Chiêm đã cho xây dựng chùa Báo Ân (Thanh Hóa) để tỏ lòng cảm tạ. Linh Nhâm thái hậu xây dựng cho mình đến hàng trăm ngôi chùa. Khi vừa lên ngôi, Lý Thái Tổ chưa xây dựng tôn miếu xã tắc, nhà vua đã cho xây dựng tám ngôi chùa. Sử cũ mô tả những ngôi chùa hết sức bề thế, uy nghiêm, trong khi cung điện của triều đình thì mô tả sơ sài. Rõ ràng là thời ấy, kiến trúc Phật giáo có vị trí quan trọng và nổi trội hơn cả các công trình kiến trúc khác. Tuy nhiên, ngày nay nói đến những ngôi chùa thời Lý ta chỉ còn hình dung qua nền móng và các thư tịch cổ để lại, vì không có công trình nào còn lại nguyên vẹn. Chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) ở Hà Nội chỉ là một mô phỏng của ngôi chùa xưa, nhưng có quy mô nhỏ hơn rất nhiều.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 12 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Chùa Một Cột (Diên Hựu) ở Hà Nội

Nói đến các công trình kiến trúc Phật giáo thời Lý, người ta thường nói đến tính quy mô của nó. Chùa Một Cột xưa (xây năm 1049) được dựng trên cột đá cao hàng vài chục mét, vươn lên giữa hai hồ Linh Chiểu và Bích Trí, như hình bông sen nở ngàn cánh, trong chùa có tượng mình vàng. Ðặc biệt chùa có quả chuông lớn, chuông Quy Ðiền nặng đến nỗi không thể treo được, phải đặt dưới đất. Chùa Phật Tích (Phượng Hoàng, Từ Sơn, Bắc Ninh) với tên chữ Vạn Phúc tự xây dựng năm 1057 gắn liền với truyền thuyết một tòa tháp cao chọc trời khi vỡ hiện ra pho tượng mình vàng uy nghi. Chùa được xây dựng với bốn cấp nền ăn sâu vào triền núi, mỗi lớp nền cao từ 4 đến 5 m. Lớp đầu tiên là nền đất, có chiều rộng 60 m, và chiều sâu 100 m, ba lớp nền sau được bó đá với chiều rộng khoảng 60 m, chiều sâu khoảng 100 m và được gắn kết với nhau bằng các bậc cầu thang. Kiến trúc ngôi chùa xưa chỉ còn lại bốn lớp nền, vừa qua chùa được xây dựng lại với quy mô khá bề thế để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tháp ở chùa Phật Tích – Bắc Ninh

Cùng với kiến trúc chùa Phật Tích, chùa Dạm (Quế Võ, Bắc Ninh) được xây dựng năm 1086, trên núi Dạm. Ngôi chùa cũng gồm bốn lớp nền ăn sâu vào triền núi, mỗi lớp có chiều cao khoảng 5-6 m. Với diện tích rộng gần 8.000 m2, bề mặt của mỗi lớp rộng khoảng 65 m và chiều sâu của bốn lớp khoảng 120 m. Ngôi chùa bề thế đến mức Trần Nhân Tông khi đi vãn cảnh chùa đã viết: Bức tranh kiến trúc mười hai lớp – Mắt thấy thiên nhiên rộng vạn lần (Thập nhị lâu đài khai họa lục – Tam nhiên thế giới diệc thị màu). Tiếc rằng ngôi chùa bề thế đó ngày nay chỉ còn lại các nền móng, song vẫn có thể hình dung về quy mô của nó. Trong dân gian vẫn còn giai thoại kể về câu ca Trăng mười tám đóng cửa chùa Dạm rằng, dân thôn Tự Môn (Cửa Chùa) mỗi khi cùng nhà chùa đóng cửa, thì kể từ tiếng trống thu không điểm đến lúc trăng mười tám mọc mới đóng xong hết cửa chùa. Cùng với chùa Phật Tích, chùa Dạm, Bà Tấm, chùa Hương Lãng cũng là những công trình kiến trúc hết sức bề thế. Chùa Bà Tấm (Gia Lâm, Hà Nội) có bậc cửa ra vào rộng 12 m, thượng điện rộng đến 60 m, còn diện tích nội tự của chùa Hương Lãng rộng gần 40.000 m2.

 

Cột đá chùa Dạm – Bắc Ninh

Nói đến tính quy mô của kiến trúc Phật giáo thời Lý còn phải kể đến các tháp Phật. Tháp chùa thời Lý khác với tháp của những ngôi chùa thời sau, đó là nơi thờ Phật chứ không phải mộ của các nhà sư, là nơi để hành lễ chứ không phải để tưởng niệm. Tháp thời Lý thường ở vị trí trung tâm của ngôi chùa, được làm nhiều tầng, trở thành biểu tượng thiêng liêng nối trời với đất, tạo ra sự hòa hợp âm – dương, gửi gắm ý nguyện của phật tử với Ðức Phật trên cõi Niết Bàn. Các tháp Phật thời Lý như tháp Phật Tích, tháp Báo Thiên, tháp Chương Sơn… nay cũng chỉ còn lại nền móng, dựa vào công thức xây dựng tháp cổ và mô hình tháp bằng đất nung khảo cổ học tìm được, các nhà nghiên cứu phỏng đoán các tháp thời Lý thường cao hơn mười tầng và có chiều cao hàng mấy chục mét. Gần đây Viện Mỹ thuật có nghiên cứu và xác định chiều cao của tháp Phật Tích khoảng 36 m.tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 13 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Chùa Báo Thiên (nay đã bị phá hủy, tọa lạc ở vị trí nay là Nhà Thờ Lớn Hà Nội)tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 14 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Tháp Báo Thiên

Nói đến những kiến trúc Phật giáo thời Lý, bên cạnh tính quy mô của những công trình, còn cần nhắc đến kết cấu chắc chắn, cân đối, mà ở đó nổi bật lên là dạng kết cấu mặt bằng hình vuông hướng vào trung tâm là nơi thờ Phật như chùa Một Cột, hoặc kết cấu tầng tầng lớp lớp mở rộng không gian từ ngoài vào trong như kiến trúc chùa Phật Tích, chùa Dạm. Ngoài ra nói đến chùa thời Lý thường đi liền với cảnh quan thiên nhiên rất đẹp, gắn với núi, với sông, với những cánh đồng mênh mông tạo thành những phong cảnh hữu tình, hòa hợp giữa con người và trời đất. Và trang hoàng cho các công trình đó là những tác phẩm hội họa, điêu khắc, với hình ảnh rồng, phượng, mây, sóng, hoa sen, hoa cúc, nhạc công, tiên nữ… làm cho công trình trở nên bay bổng, tạo ra chốn tiên cảnh ở trần gian vừa như thực lại vừa như mơ. Ngày nay, qua dấu tích còn lại với những nền móng, chân tảng, những viên ngói bò chạm rồng chạm phượng, v.v. cùng các thư tịch người xưa để lại, chúng ta có thể hình dung ra kiến trúc Phật giáo thời Lý, một loại công trình nổi bật trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Và đó chính là những di sản văn hóa vật thể, thể hiện tâm hồn hiền hậu, lối sống hiền hòa vốn có của người Việt, đồng thời là khát vọng của một vương triều đã hòa chung với khát vọng của nhân dân để cùng cầu mong xây dựng một đất nước phồn vinh. Đoàn Hồng Lư – theo Nhân Dân Online

Dựng lại cung điện thời Lý – Báo Thanh Niên

Kiến trúc và mặt bằng kiến trúc cung điện thời Lý được phục dựng
tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 15 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này
ẢNH: VIỆN NGHIÊN CỨU KINH THÀNH

Đấu củng sơn son giúp tái hiện bộ mái thời Lý

PGS-TS Bùi Minh Trí, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh thành (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), nhấn nút thì một đoạn phim về kiến trúc Hoàng thành Thăng Long (HTTL) tại các khu khảo cổ A, B, C, D, E ở 18 Hoàng Diệu (Hà Nội) hiện ra. Từ những móng trụ, hố sỏi, chân tảng xám, những cột gỗ mọc lên, tiếp theo là thân kiến trúc với những khung cửa và sau cùng, bộ mái xuất hiện. Từ hố khai quật, dấu tích khảo cổ biến thành cung điện lộng lẫy.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 16 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Bộ mái cung điện nhà Lý được phục dựng

ẢNH: VIỆN NGHIÊN CỨU KINH THÀNH

“Đó là toàn bộ mặt bằng kiến trúc thời Lý tại các hố khai quật 18 Hoàng Diệu. Đây là một phần kết quả nghiên cứu HTTL sau 10 năm của Viện Nghiên cứu kinh thành”, ông Trí chia sẻ.

PGS-TS Trí đã bắt đầu việc khai quật khảo cổ học ở HTTL từ 2002 tới nay. Giai đoạn 2002 – 2004, tại các khu từ A-E phát lộ quần thể kiến trúc lớn. Nhưng hình thái kiến trúc cung điện thời Lý vẫn là điều bí ẩn, chưa có đủ cơ sở để nhận diện như kiến trúc Cố Cung – Bắc Kinh ( Trung Quốc), Changdeokgung – Seoul ( Hàn Quốc) hay Nara (Nhật Bản).

“10 năm sau danh hiệu của UNESCO, công chúng vẫn không thể tưởng tượng được hình thái cung điện nhà Lý ra sao. Làm sao để giải mã, để vẽ được hình thái đó là mong muốn của Viện Nghiên cứu kinh thành”, ông Trí cho biết.

Nhưng những dấu tích còn lại của thời Lý chỉ còn nền móng. “Chúng ta chỉ tìm thấy nền móng, phần giữa và mái không còn tồn tại. Các móng trụ sỏi còn lại cho thấy nền móng, cũng cho thấy dấu tích HTTL là kiến trúc cung điện và kiến trúc gỗ”, ông Trí nói.

Về bộ mái, theo ông Trí, khai quật ở HTTL đã tìm thấy lượng lớn ngói đất nung đỏ tươi. Chúng cho thấy kiến trúc thời Lý có mái ngói với vật liệu kiến trúc trang trí. Năm 2006, việc nghiên cứu chức năng các loại ngói trên mái cung điện bắt đầu. “Chúng tôi quyết định nghiên cứu so sánh với các nước ở châu Á. Qua đó để tìm ra hình thái mái cung điện. Chúng tôi nghiên cứu Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, cố đô Huế để so sánh từng vấn đề nhỏ”.

Việc nghiên cứu so sánh cùng với những dấu tích đấu củng (một loại kết cấu đỡ mái có nguồn gốc Trung Quốc) sơn son tìm thấy khiến bộ mái rõ dần lên. Viện Nghiên cứu kinh thành cũng tìm tiếp ra được những mô tả về đấu củng sơn son đỏ tươi, cột vẽ long hạc. Từ đó, họ giải mã hình thái bộ khung giá đỡ mái. “Tìm thấy kiến trúc đấu củng là việc quan trọng cho phép tái hiện bộ mái thời Lý”, ông Trí nói. Ông cũng đã có báo cáo khoa học việc này tại hội thảo nhân 10 năm HTTL trở thành di sản thế giới.

Dấu ấn cung điện nguy nga, tráng lệ

Theo ông Trí, các chân tảng cũng cho phép ông tính toán đường kính các cột. Theo đó, các cột nhỏ cũng có đường kính tới 45 cm, cột lớn đường kính 50 cm, thậm chí có cột đường kính tới 80 cm. “Năm 2014, Viện Nghiên cứu kinh thành còn tái khai quật mặt bằng nghiên cứu. Sau đó, chúng tôi có kết luận về dấu tích cột âm. Từ đây ta biết trong công trình kiến trúc Lý có cột âm bên cạnh dương”, ông Trí nhớ lại.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 17 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Kiến trúc thời Lý được phục dựng

Các dấu vết mặt bằng còn giúp các nhà nghiên cứu ở viện tìm ra 2 kiến trúc ở khu vực khảo cổ khu A-E ở 18 Hoàng Diệu. Theo đó, có một kiến trúc lục giác và một kiến trúc bát giác nhiều tầng tại đây. Cả hai đều nằm trên trục trung tâm của khu vực.

Với kiến trúc bát giác, thoạt đầu ông Trí khá băn khoăn về việc đó là kiến trúc 3 hay 5 tầng. Kiến trúc này có một cột lớn ở chính giữa, gọi là kiến trúc có cột trung tâm. “Cột chính lớn này chứng minh nó là công trình rất lớn, nhiều hơn 3 tầng. Tại Nhật Bản cũng có kiến trúc như vậy, cột ở giữa có tác dụng để công trình vững chãi trước động đất. Họ cũng có cột dương và cột chôn. Loại cột ở HTTL là cột dương”, ông Trí lý giải. Kiến trúc gỗ bát giác này, theo ông Trí, có thể so với kiến trúc Tháp Thích Ca nổi tiếng của Trung Quốc thời Tống ở phía nam.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 18 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Dấu tích khảo cổ học

Cũng dựa trên các dấu tích, các nhà nghiên cứu còn vẽ ra 2 dãy lầu với 26 kiến trúc lục giác đặt cạnh nhau. “Hiện tại chúng tôi chưa biết những dãy lầu này được sử dụng làm gì. Trong sử có nói đến từ trà đình, vì thế cũng có phỏng đoán là lầu uống trà. Tuy nhiên, ở đây lại có nhiều quá, vì thế, chúng tôi nghĩ có thể đây là kiến trúc liên quan đến nghi lễ trong hoàng cung. Có phỏng đoán lại cho rằng đấy chỉ là cách tổ chức phong cảnh. Điều này có lẽ cần nghiên cứu thêm”, ông Trí nói.

tim hieu cac cong trinh kien truc thoi ly va dac diem cua thoi ky nay 138434 19 - Tìm hiểu các công trình kiến trúc thời Lý và đặc điểm của thời kỳ này

Chi tiết kiến trúc thời Lý ghép nên bộ mái

Theo dự kiến, Viện Nghiên cứu kinh thành sẽ đẩy mạnh nghiên cứu so sánh, giải mã sâu hơn về chức năng, kỹ thuật lợp của các loại ngói khai quật được tại khu di tích HTTL. Trên cơ sở đó sẽ tiến hành phục dựng hình thái bộ mái của kiến trúc thời Đại La, thời Đinh – Tiền Lê, thời Trần, đặc biệt là hình thái bộ mái kiến trúc điện Kính Thiên – tòa chính điện trong Cấm thành Thăng Long thời Lê sơ (thế kỷ 15).

PGS-TS Nguyễn Văn Kim, Phó chủ tịch Hội đồng di sản quốc gia, cũng rất vui với kết quả nghiên cứu này. Ông đánh giá cao việc đã có những nghiên cứu so sánh để đưa ra cách dựng lại hình thái cung điện xưa.

Về phần mình, PGS-TS Bùi Minh Trí chia sẻ điều làm ông ấn tượng nhất ở hình thái cung điện thời Lý chính là những dấu ấn vương quyền, thần quyền trên trang trí kiến trúc. Nó cho thấy vẻ đẹp riêng, sắc thái riêng, “hơi thở” của nhà Lý, kết tinh bản sắc dân tộc mà vẫn hòa với nghệ thuật điêu khắc Chăm Pa và vẫn thoát ra được ngàn năm Bắc thuộc. “Từ đây, chúng ta có thể tự hào nói rằng, HTTL thời Lý vốn từng được xây dựng rất nguy nga, tráng lệ và có nhiều công trình kiến trúc gỗ to lớn, hoành tráng không thua kém so với các kiến trúc cung điện nổi tiếng ở châu Á”, PGS-TS Trí không giấu tự hào nói.

Tái hiện rồng vàng thời Lý

Một đoạn phim khác thể hiện rồng vàng thời Lý cũng vừa được ông Trí và các nhà nghiên cứu Viện Nghiên cứu kinh thành thực hiện. Theo đó, rồng thời Lý được thể hiện với những đặc điểm trên nhiều hiện vật khảo cổ học tìm thấy kết hợp với huyền thoại lịch sử. Hình ảnh sau đó được trình chiếu bằng công nghệ 3D và Mapping, phản ánh về sự tiếp nối truyền thống của trung tâm quyền lực trong dòng chảy lịch sử dân tộc, đưa lại cảm xúc tự hào về kinh đô Thăng Long – kinh đô rồng bay. Sau cùng, hình ảnh này hiện được sử dụng để kết nối không gian giữa hai tầng hầm trưng bày khảo cổ học ở nhà Quốc hội.

Trước đó, trưng bày khảo cổ học dưới hầm Nhà Quốc hội do Viện Nghiên cứu kinh thành thực hiện, đã được CLB Nhà báo khoa học – công nghệ VN (Hội Nhà báo VN) bình chọn là sự kiện khoa học – công nghệ nổi bật của năm 2017. Hội đồng nghiệm thu của Viện Hàn lâm khoa học xã hội VN cũng đánh giá đây là một bảo tàng nằm trong top đầu của châu Á.

 

Nguồn: https://thanhnien.vn/dung-lai-cung-dien-thoi-ly-post1058904.html

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC THỜI LÝ – khanhhoathuynga

Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật Giáo , rất nhiều Quốc Tự được xây dựng .Phong cách thống soái là hoành tráng , đồ sộ.Chùa một cột ( Chùa Diên Hựu)được xây dựng ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với sự cách điệu tuyệt diệu . Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng . Năm 1031 Lý Thái Tông cho xây dựng 950 ngôi chùa .Năm 1056 Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa , năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo Tháp trước chùa Báo Thiên ,cao vài chục trượng (khoảng 50-60 m)và có 30 tầng . Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém .

Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m .Chùa Phật Tích- Bắc Ninh , chùa Long Đọi –Hà nam , Chùa Bà Tấm – hà Nội ,chùa Quảng Giáo –Quảng Ninh đều là những chùa lớn .

Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn , cao . Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao .cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản , chỉ gồm một ngôi chùa chính và một ngọn tháp lớn có đáy vuông .Điều này phản ánh tư tưởng giản dị , phóng khoáng của người thời Lý .Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm , với các hình chim thần ( Garuda ), nữ thần đầu người mình chim , có lẽ do việc bắt những tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông. Vì thế ấn tượng của ngọi chùa Lý rất độc đáo : Vùa tôn nghiêm , hùng vĩ , đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc , vùa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động , lý thú với các trng trí mang hơi hướng Chăm .

Chùa Một Cột hay chùa Mật ( gọi theo Hán Việt là Nhất Trụ Tháp ) còn có tên khác là Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài ( Đài hoa sen ) , là môt ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội .Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam .

Chùa được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049 .Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa Hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen . Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý thái Tông (1028-1054)và theo gợi ý của nhà sư Thiền Tuệ .vào năm 1049 vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên tòa . Khi tỉnh dậy,nhà vua kể chuyện đó lại cho bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , dựng cột đá như trong chiêm bao , làm tòa sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ , vì thế chùa mang tên Diên Hựu .

Đến năm 1105 , vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng . Năm 1108 Nguyên Phi Ỷ lan sai bày tôi đúc một cái chuông rát to ,nặng đến môt vạn hai nghìn cân , đặt tên là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời ).Đây được xem là một trong tứ đại khí- bốn công trình lớn của Việt nam thời đól là : Tháp Báo Thiên ,chuông Qui Điền , vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm . Giác Thế Chung đúc xong nặng quá không treo lên được , để dưới mặt đất thì đánh không kêu .Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ , ruộng này có nhiều rùa , do đó có tên là La Quy Điền chuông (chuông ruộng rùa ).

Đến thế kỷ 15 , giặc Minh xâm lược , chiếm thành Đông Quan ( Hà Nội ).Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân lam Sơn ra đánh ,vây thành rất gấp .quân Minh thiếu thốn vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai người đem phá chuông Quy Điền lấy đồng .Quân Minh thua trận , nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa .

Đến thời nhà Trần , chùa đã không phải là ngôi chùa nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi : Năm 1249 :”…mùa xuân , tháng giêng , sửa lại chùa Diên Hưu ,xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ…” chùa đã qua nhiều đợt tu sửa .Đợt tu sửa chữa lớn vào năm Thiên Ứng Chính Bình 18 ( 1249 ) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê ,triều đình nhiều lần cho tu sửa , thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá . Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường , hành lang tả hữu ,gác chuông và cửa tam quan . Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giáo xin đúc chuông mới . Năm 1864 , tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu , làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen , chạm trổ thêm công phu tráng lệ . năm 1954 ,trước khi rút khỏi Hà Nội , quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa . Sau ngày tiếp quản thủ đô , Bộ văn hóa đã cho tu sửa chùa một cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn .

Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan , với ba chữ “:Diên Hựu Tự “ , là một ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột , xây khoảng đầu thế kỷ 18 .

Chùa Phật Tích ( Phật Tích Tự ) còn gọi là chùa Vạn Phúc ( Vạn Phúc Tự ) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía nam núi Phật Tích ( còn gọi núi Lạn Kha , non tiên ), xã Phật Tích , huyện Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh . Trong chùa có tượng Đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia .

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc . Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý . Ngôi chùa vào thời nhà Lý hiện nay không còn nữa .

Năm 1066 , vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một ngôi tháo cao . sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng . để ghi nhận sự xuát hiện kỳ diệu của bức tượng này , xóm Hỏa Kê ( cạnh chùa ) đổi tên thành thôn Phật Tích .

Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy ( 1686 )ca ngợi vẻ đẹp của cạnh chùa :” Đoái trông danh thắng đất Tiên Du , danh sơn Phật Tích , ứng thế ở Càn Phương( hướng Nam ) có núi Phượng Lĩnh bao bọc , phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh . Phía Hữu Bạch Hổ núi ôm , trên đỉnh nhà khai bàn đá …”

Năm 1071 , vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5m , sai khắc vào đá đặt trên sườn núi . Bà Nguyên Phi Ỷ lan có đóng góp quan trọng trong bưởi đầu xây dựng chùa Phật Tích .

Vào thời nhà Lê , năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông , năm 1686 , chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn , có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc Tự .

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại su đó được gần 300 năm .kháng chiến thực dân Pháp bùng nổ và Chùa bị tàn phá nhiều . Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947 .

Khi hòa bình lập lại (1954)đến nay , Chùa Phật Tích được khôi phục dần . năm 1959 , bộ văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A Di Đà bằng đá quý giá .Tháng 4 năm 1962 , nhà nước công nhận chùa Phật tích là Di tích Lịch Sủ văn hóa .

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc“ , sân chùa là cả một vườn hoa mẫu Đơn rực rỡ . Bên phải Chùa là miếu thờ Đức Chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này .

Cho tới nay , Chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách , 5 gian bảo thờ Phật , Đức A Di Đà cùng các vị Tam Thế Phật , 8 gian nhà tổ , và 7 gian nhà thồ Thánh Mẫu .

Ngôi Chùa có kiến trúc của thời Lý , thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi .các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m rộng khoảng 33m , mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật .

Chùa Dạm căn cứ vào các thư tịch cổ , Chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông (1072-1127 ) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ hai ( 1086 ).Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình , vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sôngĐuống .Năm 1087 , “Vua ngự đến chùa Lãm Sơn , đến đêm ban yến cho các quan .Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến” công trình làm trong 9 năm mới xong .Vua ban tên Chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ triện .

Năm long phù nguyên hóa thứ 5 (1105) , Vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp đá nữa .Chùa làm xong(1094), vua ban 300mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng mở cửa chùa.

Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn , chính giữa ngọn cao nhất .Núi Rùa làm tiền án , ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có thanh Long ,bên hữu có Bạch Hổ chầu về .Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy . Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghi êm hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh . hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng “rốn nước “ Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng . chiều dài của lớp nền 120m , chiều rộng 70m ( Chùa Phật Tích là 100m và 60m ).Tổng cộng diện tích gần 8000m vuông ,Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50×60 cm) các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế ,chếch khoảng 70 độ ,và có độ cao 5-6m .

Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh Tự do Vua lý Thánh Tông và Vương Phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 .Đến đời Lý Nhân Tông nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121.

Sau ba trăm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV , khi giặc Minh xâm lược nước ta , chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn .Riên bia thì không phá nổi , chúng đả lật đổ xuống bên cạnh núi , ngôi chùa đã trở nên hoang phế hoàn toàn . Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 ( 1860 ) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại Thượng Điện , Tiền Điện , gác chuông , nhà tổ …đến năm 1864 , chùa lại tiếp tục sửa hành lang , đúc tượng Di Lặc , đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian , từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật Giáo .Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều .hai bên Chùa là 18 gian hành lang thờ Thập bát La Hán .

Chùa Bà Tấm ( Dương Xá – Gia Lâm –Hà Nội )

Cụm di tích đền – Chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá huyện Gia Lâm , ngoại thành Hà Nội . Di tích nằm ở phía đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km .Từ trung tâm thành phố , qua cầu Chương Dương , theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá .Di tích nằm bên trái , liền kề đường quốc lộ . Theo sử sách và truyền thuyết dân gian , cụm di tích đền – chùa Bà tấm được xây dựng từ thời Lý , sự ra đời của di tích gắn liền với Nguyên Phi , Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý .Sử cũ cho biết Nguyên Phi Ỷ lan giỏi việc trị nước ( hai lần nhiếp chính ), khiến nhân tâm hòa hợp , đất nước thanh bình , dân gian sùng phật , tôn bà là Phật Bà Quan Âm .

Cụm di tích chùa – đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng(phía bên tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần ,gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông ) . Trải qua quá trình tồn tại , mặt bằng di tích có nhiều thay đổi , hiện nay còn có chùa , đền và nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận .

Nguồn: https://.wordpress.com/2010/04/21/nghệ-thuật-kiến-truc-thời-ly/

Danh sách các công trình kiến trúc thời Lý

Dưới đây là một số công trình kiến trúc nổi tiếng thời kỳ Lý:

Đền Ngọc Sơn: Nằm trong khuôn viên Thành Hoàng thành phố Hà Nội, đền Ngọc Sơn là một trong những công trình kiến trúc đáng chú ý nhất thời kỳ Lý.

Đền Thành: Đền Thành là một công trình kiến trúc được xây dựng vào thế kỷ 11, nằm ở Ninh Bình. Nó được coi là một trong những công trình kiến trúc quan trọng nhất của thời kỳ Lý.

Tháp Bút: Tháp Bút là một công trình kiến trúc độc đáo ở Huế. Nó được xây dựng vào thế kỷ 11 và được coi là một trong những tháp lớn nhất và đẹp nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.

Chùa Phật Tích: Chùa Phật Tích nằm ở Thành phố Huế, được xây dựng vào đầu thế kỷ 11. Đây là một trong những công trình kiến trúc có giá trị lịch sử và văn hóa cao nhất của thời kỳ Lý.

Đền Bà Chúa Kho: Đền Bà Chúa Kho nằm ở vùng đất Quảng Ninh, là một công trình kiến trúc được xây dựng vào đầu thế kỷ 13. Nó được coi là một trong những công trình kiến trúc đáng chú ý nhất của thời kỳ Lý.

Chùa Đông Thành: Chùa Đông Thành nằm tại Thanh Hóa, được xây dựng vào thế kỷ 10 và đánh dấu sự khai sáng Phật giáo tại Việt Nam.

Đền Kỳ Tân: Nằm ở Hưng Yên, Đền Kỳ Tân được xây dựng vào đầu thế kỷ 12. Đây là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị lịch sử và văn hóa cao nhất của thời kỳ Lý.

Ngoài ra còn có nhiều công trình kiến trúc khác được xây dựng trong thời kỳ Lý, đó là những tài sản văn hóa, kiến trúc quý giá của đất nước.

Tham khảo thêm:
– Kiến trúc thờ Lê Trung Hưng: https://kientrucsuvietnam.vn/kien-truc-thoi-le-trung-hung/
5/5 - (2 bình chọn)
author-avatar

Kiến trúc sư Phan Đình Kha

Kiến trúc sư Phan Đình Kha với 15 năm kinh nghiệm, hơn 1000 công trình, đoạt giải nhất kiến trúc quốc gia 2010 (Công trình: Nhà ga hành khách cảng hàng không Liên Khương, giải nhất Kiến trúc quốc gia 2010. Nhóm thiết kế: KTS Lưu Hướng Dương, KTS Trần Trung Vương, KTS Nguyễn Thị Quỳnh Nga, KTS Phan Đình Kha). Các thiết kế của anh như Cảng hàng không Liên Khương – Đà Lạt, Bệnh viện Phú Mỹ (TP.HCM), khách sạn 4 sao Phú Mỹ – Sóc Trăng. Nhà hàng Miss Sài Gòn. Homestay Đà Lạt của vợ chồng danh hài Trường Giang – Nhã Phương.
Tham khảo:
- https://ashui.com/mag/chuyenmuc/kien-truc/4493-nha-ga-hang-khong-lien-khuong-mau-tuong-tuong.html
- https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/cong-bo-giai-thuong-kien-truc-quoc-gia-nam-2010-62481.html
- https://danviet.vn/doc-dao-hai-giai-thuong-kien-truc-quoc-gia-777746293.htm
- https://kienviet.net/2011/03/14/ket-qua-giai-thuong-kien-truc-quoc-gia-2010/
- https://baoxaydung.com.vn/trien-lam-giai-thuong-kien-truc-viet-nam-22261.html

Bài viết cùng chuyên mục