Cuối thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, lợi dụng sự suy sụp của Lưỡng Hà, hai tộc người Elam và người Amorites xâm lược tàn phá và cướp bóc. Người Amorites xây dựng hai quốc gia về phía Nam của Lưỡng Hà là Ixine và Laxa; ở phía Bắc của Lưỡng Hà cũng hình thành các quốc gia Esnunna và Marie. Đến lượt các quốc gia trên tranh giành và gây chiến với nhau liên miên, gây nên cảnh đổ nát hoang tàn.
Vào khoảng đầu thế kỷ XIX trước Công Nguyên, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà và hình thành quốc gia cổ Babylon (khác với Tân Babylon sau này) và họ đã thống nhất được khu vực Lưỡng Hà. Quốc gia Babylon cổ nằm trên đường giao lưu quan trọng nối châu Á rộng lớn sang Địa Trung Hải, châu Phi và châu Âu.

Sự cường thịnh và hùng mạnh đạt đến cao điểm vào thời kỳ 1792-1750 trước Công Nguyên, dưới triều đại vua Hammourabi. Nhà nước cổ Babylon thống nhất trên một diện tích lãnh thổ toàn bộ Lưỡng Hà và bị suy sụp vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II trước Công Nguyên bởi người Catsites nổi dậy và làm chủ hầu hết lãnh thổ của Babylon.
- Kinh tế Babylon có những sắc thái đặc biệt do giao điểm của các con đường Đông Tây cũng như sự trù phú của đồng bằng Lưỡng Hà. Nông nghiệp phát triển nhờ vào các yếu tố thuận lợi cũng như thành tựu thủy lợi của thời kỳ này. Người Babylon không những tự cung cấp được lương thực mà còn có một lượng dồi dào để thông thương buôn bán với các khu vực khác. Vua Hammourabi ra lệnh đào một con sông tưới cho cả vùng rộng lớn Akkad.
Thủ công nghiệp có nghề làm gạch, luyện kim, đồ trang sức, dệt, da, đóng thuyền, xây dựng… bên cạnh một nền thương mại phát triển giúp cho vùng Babylon càng thêm giàu có và phát triển.
- Xã hội nổi bật bởi sự ra đời của bộ luật Hammorabi chia cư dân thành ba hạng người: dân tự do, tiện dân và nô lệ. Nguồn nô lệ chủ yếu được cấp từ nguồn tù binh chiến tranh, mua bán.
- Chính trị từ thời Hammorabi, các vua Babylon tự coi mình là hiện thân của thần thánh. Vua tự đồng nhất mình với việc kế vị các vị thần cho nên vương quyền và thần quyền hòa quyện với nhau, tạo thành một chế độ độc đoán chuyên chế và thần bí.
- Văn hoá của Babylon cổ là sự giao hòa giữa hai yếu tố Sumer và Akkad. Sự ra đời bộ luật Hammorabi và được khắc trên một tấm đá bazan cao 2,25 mét, đường kính đáy gần 2 mét. Phía trên mặt trước của tấm đá được khắc hình thần Mặt Trời ngồi trên ngai trao bộ luật cho vua Hammorabi đứng đón một cách trịnh trọng. Phiến đá này được người Pháp tìm thấy ở kinh đo của xứ Elam cổ, hiện nay đang được lưu giữ ở bảo tàng Louvre.
- Nghệ thuật của Babylon cổ đạt đến trình độ điêu luyện trên nền tảng của hai yếu tố Sumer và Akkad. Nghệ thuật hội họa gắn chặt với nghệ thuật kiến trúc.
- Kiến trúc Của người Ả Rập có nhiều thành tựu đáng trọng. Huyền thoại các cung điện nguy nga tráng lệ và những câu truyện cổ tích thần tiên đã tô điểm cho thế giới Ả Rập thần bí và là những tuyệt tác của nhân loại.
Kiến trúc Ả Rập là tinh hoa pha trộn và sáng tạo của các luồng kiến trúc Địa Trung Hải và văn minh sông Hằng xa xội. Thành phố Babylon được bao quanh bởi một bức tường màu vàng dài 13 km và có 300 tháp canh. Đỉnh cao và chiếm về mức độ vĩ đại là một trong bảy kỳ quan cổ của người Babylon: Vườn treo Babylon.
Kỳ quan thế giới này được NebuchADnezzar xây dựng vào khoảng năm 605-562 TCN. Ông coi đó như một món quà dành cho người vợ, một người đã trưởng thành trong vùng đất quanh Media, khao khát cảnh núi rừng hùng vĩ. Những đường rãnh hùng vĩ cùng các vòi phun nước theo phong cách boroque treo lơ lửng trên các mái vòm đan xen nhau, điều tuyệt diệu trong phong cách núi rừng của đất nước Iran được chuyển về vùng đồng bằng Mesopotamia ảm đạm – Vườn treo Babylon kết hợp trình độ bậc thầy về kỹ thuật với giấc mộng trữ tình. Sử gia có uy tín, người đầu tiên đề cập đến vườn treo là Berossus, một người dân thành Babylon đã viết về vườn treo vào khoảng năm 270 TCN. Ông kể rằng, NebuchADnezzar (605-562 TCN) xây một cung điện mới trong 15 ngày, nền móng bằng đá hay các bãi đất có hình bậc thang tựa như phong cảnh núi rừng. Theo lời Berossus, cây cối được trồng tại đây, cái được gọi là vườn treo, nhằm làm vui lòng một vị hoàng hậu. Một trong số những thành tích của NebuchADnezzar, theo Berossus biết, mô tả cung điện mới của nhà vua như sau: cung điện cao như núi, một phần xây dựng bằng đá, nghe nói chỉ trong 15 ngày là hoàn tất. Không nêu cụ thể một khu vườn nào cả, nhưng các cung điện chỉ chăm sóc có một khu vườn.
Người Hy Lạp về sau bổ sung thêm nhiều chi tiết. Một giả thuyết kể rằng khu vườn rộng 120 m2, chiều cao của bức tường thành cao khoảng 25 m. Khu vườn có bãi đất tạo hình bậc thang như một nhà hát, với các công trình nhỏ hòa quyện bên trong. Phần nền xây nhiều vách tường, mỗi vách rộng khoảng 7m và cách nhau 3m, để đỡ các dầm bằng đá. Phía trên dầm là ba lớp riêng biệt – sậy đặt trong lớp nhựa đường, hai lớp đá xây bằng gạch, và lớp vỏ ngoài cùng làm bằng chì. Đất trong khu vườn đặt ở trên cùng, nước tưới cây lấy từ các cỗ máy ngụy trang hút nước từ con sông chảy bên dưới. Một giả thuyết thứ hai cho rằng, có đến 20 vách tường chống. Một giả thuyết thứ ba lại kể khu vườn nằm trên các mái cong dạng vòm xây bằng gạch và nhựa đường: các đinh vít kiểu Archimede nằm dọc theo cầu thang cung cấp nước. Một mô tả khác cho rằng có một công trình phụ gồm các cột bằng đá đỡ các dầm bằng gỗ: dầm làm bằng thân cây cọ. Thay vì bị mục rữa, đã mang chất bổ đến nuôi dưỡng rễ cây trồng trong khu vực treo ở phía trên, toàn bộ khuôn viên được tưới tiêu bằng một hệ thống gồm các vòi phun nước và máng dẫn thiết kế thật tài tình.
Vì có những mô tả trái ngược nhau, một số tỏ ra ngờ vực liệu vườn treo có thật hay không. Tuy không có một đề cập đến bất cứ đặc điểm kiến trúc nào, ngoại trừ các thân cây không bị mục rữa, quả đáng ngạc nhiên. Du khách Hy Lạp chắc hẳn đã chứng kiến việc đưa cây cối lên cao, và chúng ta có thể tìm kiếm những gì còn lại trong đống đổ nát hiện tại theo cách hợp pháp. Nhưng thật không may, các cung điện ở Babylon đã bị những người háo hức tận dụng những viên gạch nung tráng lệ tàn phá hàng ngàn năm trước. Ngày nay chỉ còn lại phần nền móng mà thôi. Những người thám hiểm ban đầu tìm kiếm các khu vườn trong Cung điện mùa hè trên cao, diện tích khoảng 180 m2, cùng với việc kết hợp các giếng nước công phu, nhưng vẫn không đủ không gian dành cho các bãi đất hình bậc thang và cây cối. Một nhà khảo cổ đã xác định vị trí của khu vườn nằm phía trên một số mái cong dạng vòm mà ông phát hiện nằm ở Cung điện phía Nam, lại một lần nữa cũng có các giếng nước, cái mái dạng vòm còn là nền móng của một khu vực hành chánh, cũng có thể là một nhà lao. Bất kỳ ai tìm kiếm mặt bằng tầng trệt thuộc khu vực cung điện sẽ nhận thấy các cung điện phía Bắc và phía Nam nằm bên sườn hướng Bắc và Tây, gắn với Euphrates, bằng các công trình nào trong số này cũng đều có các khu vườn tạo hình bậc thang, có lẽ gây ấn tượng nhất là công trình phụ phía Tây. Phần bao quanh này, có diện tích khoảng 190 x 80 m, với các tường ngoài rộng khoảng 20 m, làm bằng gạch đặt trong lớp nhựa đường. Có nhiều căn phòng ở đầu phía Bắc, trong khi ở đầu phía Nam có một góc hình vuông, có lẽ cầu thang đặt trong một góc. Trong công trình độc đáo này, có thể người ta đã tạo hình một khu vườn hình vuông, gần bằng với kích thước yêu cầu, với các ngôi nhà nghỉ trong mùa hè cùng một khu núi non bộ tạo hình bậc thang. Nhưng vấn đề này chỉ được giải quyết qua những cuộc khai quật gần đây hoặc bằng một số tư liệu chưa tìm thấy từ thời vương triều Nebuchadnezzar. Cho đến lúc này, chúng ta có thể hình dung Vườn treo có các mái dạng vòm và vòi nước hoặc bằng bất cứ hình ảnh nào trong trí tưởng tượng.
Tuyệt phẩm vườn treo Babilon thời kỳ Lưỡng Hà, Ba Tư
Nền văn minh Lưỡng Hà và Ba Tư thuộc vùng Trung Cận Đông, bắt đầu khoảng 4000 năm trước công nguyên. Lưỡng Hà và Ba Tư có loại hình kiến trúc đa dạng: đền đài, cùng điện, thành quách, kênh mương, nhà ở và tiêu biểu là các công trình Ziggurat (đài chiêm tinh).

Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu nhất là thành Babilon. Sự phát triển của thành Babilon thời đại Tân Babilon (thế kỷ VI trước CN) gắn với sự phát triển của gạch lưu ly nổi tiếng. Tân Babilon hay Babilon thứ hai với các di chỉ còn lại và theo miêu tả của nhà sử học Hy Lạp Herodote là có nhiều giá trị. Thành có hai bức tường vây quanh với chu vi là 88km và 66km, bức thành nội có chu vi 16.5km, cao 25-30m, mặt thành rộng 7,5m, thành có 250 vọng lâu, 100 cửa bằng đồng và 9 cửa lớn.
Ở vị trí trung tâm của thành là cung điện dành cho vua và tăng lữ, bên cạnh đó có đền thờ thần Marduk. Đền thờ xây dựng trên một khu đất rộng, kích thước 550-450m. Cạnh đó là Ziggurat Babel. Ngoài ra, khu trung tâm còn có nhiều công trình kiến trúc quan trọng khác là đền thờ Ishtar de Akkad, vườn treo Babilon…
Vườn treo Babilon được xem là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại- được dựng lên vào năm sau, khi Nabucodonosor xây dựng Cung điện hoàng gia của mình.Vườn treo là món quà của vua Nabucodonosor xây dựng cho Hoàng hậu vốn là công chúa người Mefder- là một xứ có núi non hùng vĩ. Công trình nằm giữa sông Euphrates và Cung điện nhà vua, có chiều cao bao quát hết cả một vùng thành phố và khu vực lân cận, là điểm quan sát của những đoàn người, ngựa và lạc đà đi trên vùng Lưỡng Hà rộng lớn. Vườn treo luôn xanh tốt với nhiều loại cây lớn nhỏ khác nhau, do những bộ máy thủy lực và giếng nước, guồng nước bơm nước trên sông lên. Công trình cao 100m, gồm 4 tầng tháp, mỗi tầng cao 25m. Trên mỗi tầng là một vườn phẳng, trồng nhiều cây và hoa mang về từ khắp các nơi. Đáy của phần vườn cây được lát bằng các phiến đá kích thước 5- 1,2m đặt khít nhau và gối trên các hàng cột và tường dày chịu lực.
Nền đất làm bằng đá tảng, phủ gỗ, rồi nhựa sau đó lát gạch, cuối cùng là phủ một lớp chì. Nước không thấm được xuống tầng dưới, mà còn giữ được độ ẩm cho vườn cây, và giảm đáng kể độ võng của các tầng nhà. Riêng tầng 1, lại kết cấu theo kiểu vòm cung đứng vững trên các cột đá hoa cương không chỉ tạo ra vẻ hài hòa mà còn có tác dụng chịu lực đáng kể. Đặc sắc hơn, vườn treo có đầy đủ hoa thơm, cỏ lạ, cây cối từ khắp vùng Babylon và những nước nhà vua đi xâm chiếm được đưa về trồng tại vườn thượng uyển.
Vườn làm theo hướng gọi gió, hương thơm lan tỏa cả một vùng rộng lớn (bán kính hơn 10 km). Hoàng hậu trong những ngày oi ả, thường cùng nhà vua lên đây thưởng ngoạn hoa cỏ trong bóng cây râm mát và có thể nhìn bao quát cả thành phố. Hàng ngày, để tưới cho cây cối trong vườn, cả một hệ thống ống dẫn nước đã được xây dựng, guồng nước lên từ sông Ophrat lên tầng cao. Hàng trăm nô lệ vào gầu ra múc nước ở các bể tưới nước cho cây cối.
Vườn treo 4 mùa xanh tươi, hoa trái rất nhiều, phong phú màu sắc rất đẹp. Đó chính là công sức, trí tuệ của toàn thể Babylon. Một công trình văn hóa nổi tiếng của nhân loại đương thời. Phải chăng dân Babylon có một nền công nghiệp phát triển, đã đẩy mạnh sự trao đổi văn hóa, đã nắm được kỹ thuật trồng trọt canh nông? Và cũng chính người Babylon đã truyền một số cây công nghiệp sang Tây phương, trong đó quan trọng nhất là cây bông.
Vườn treo Babylon được xem là một kỳ quan của thế giới cổ đại. Alexandre đại đế, mấy trăm năm sau, vẫn lấy Babylon làm thủ phủ của đế quốc Hy Lạp. sau cuộc viễn chinh thất bại thảm hại ở Ấn Độ, ông lâm bệnh phải đóng quân ở Babylon. Người ta khiêng giường bệnh của ông lên vườn treo để hưởng không khí trong lành tươi mát. Nhung sức kiệt, bệnh sốt rét đã buộc ông phải rời cõi đời vào tuổi 32…
Thành Dur Sharukin và cung điện Sargon II
Thành Dur Sharukin (hay thành Khorsabad) và cung điện Sargon II được xây dựng ở thượng lưu Lưỡng Hà, dưới thời kỳ nhà nước Ashur.
Thành Dur Sharukin có hình dáng vuông, mỗi cạnh 2km, tường thành dày 50m, cao 20m. Ở những chỗ có cổng thành, chiều dày tường thành lên tới 85m. Thành có nhiều cửa và vọng lâu, trên thành có thể cũng chạy một lúc 4 cỗ chiến xa do ngựa kéo.
Cung điện Sargon II nằm trong một tòa vệ thành ở cạnh phía Tây Bắc của thành phố, được đặt trên bệ đất xây nhân tạo cao 18m để tránh ngập lụt. Do đó có các bậc thang dành cho người đi bộ và lối dành cho xe ngựa kéo dẫn lên cung điện.
Cung điện chiếm diện tích 17ha với 210 phòng và 30 sân trong. Tường cung điện làm bằng gạch phơi dày, từ độ cao 1,3 m trở xuống được xây bằng đá.
Chính điện và hậu cung của nhà vua đặt ở phía Bắc, nơi đây có cửa lớn thông ra ngoài thành, tính chất phòng ngự rất mạnh.
Cửa chính cung điện được xây theo kiểu 4 khối trụ hình chữ nhật, mỗi bên cửa chính có hai khối vươn cao. Hai cửa tròn nhỏ hơn trổ hai bên hình thành một kiểu tam quan. Cửa giữa rộng 4,3m, trên tường ốp gạch lưu ly, từ độ cao 3m trở xuống được ốp đá và khắc phù điêu. Hai bên cửa chính và phần chuyển gốc của tháp môn có khắc hình tượng đầu người mình bò.
Phòng chiêu đãi lớn có kích thước 32-8m, trên tường ốp gạch lưu ly tráng men theo hai chủ đề là hình tượng trang trí và những lời chỉ dụ của nhà vua, ngoài ra còn dùng đá để ốp chân tường, làm tấm đan, đầu cột.
Phía Tây cung điện có Ziggurat, phản ánh sự nhất trí giữa thần quyền và vương quyền. Ziggurat có đáy hình vuông 43-43m, cao 4 tầng với chiều cao tổng cộng là 60m.
Cung điện Persepolis của Ba Tư
Cung điện là loại hình chủ yếu của kiến trúc Ba Tư. Dựa trên truyền thống xây dựng Iran và các kinh nghiệm tích lũy được sau khi chinh phục đất nước của các dân tộc khác nên người Ba Tư đã xây dựng được rất nhiều cung điện xa hoa, lộng lẫy.
Cung điện được khởi công xây dựng từ năm 518 tr CN, được đặt trên một nền cao 15m so với khu vực xung quanh với kích thước 450-300m.
Cung điện chia làm 4 khu vực chính:
Khu vực đại sảnh tiếp đón 100 cột của Darius I ( phía Đông Bắc)
Khu vực đại sảnh tiếp đón của Xerxes I (phía Tây Bắc)
Khu vực các phòng châu báu (phía Đông Nam)
Khu vực hậu cung (phía Tây Nam)
Đại sảnh tiếp đón hay đại diện nghi lễ do Xerxes I hoàn tất xây dựng, là công trình đáng tự hào nhất của quần thể Persepolis. Công trình bao gồm một đại sảnh trung tâm (62,5m- 62,5m), mái được đỡ bởi 36 cột đá, mỗi cột cao 18,6m, xung quanh được phù trợ bởi ba không gian, mỗi khong gian có hai hàng cột thức. Các hàng cột thức cách từ tâm đến tâm 8,74m, tỷ lệ đường kình và chiều cao cột là 1: 12. Bốn cột ở đại diện có thể mở cửa hãm bên trên, lấy ánh sáng chiếu vào. Hàng cột thức phí Tây còn dùng để làm khan đài xem duyệt binh.
Cột đá của cung điện làm bằng đá cẩm thạch màu sẫm, tường làm bằng gạch nung, mặt tường ốp đá hoa cương đen, trắng hoặc ốp gạch lưu ly. Đầu cột là những tác phầm điêu khắc tinh xảo, được tạc hình ảnh hai con bò quỳ giáp lưng vào nhau. Chiều cao của các bộ phận đầu cột chiếm 2/5 tổng chiều cao cột.
Ở mỗi thời kỳ đều có đặc điểm kiến trúc riêng, đối với kiến trúc Lưỡng Hà và Ba Tư, ngoài những công trình đền đài, thành quách thì vườn treo Babilon luôn nổi bật về sự độc đáo, kỹ vĩ có một không hai.
Kiến trúc và giải pháp xây dựng thành Babylon
Babylon là thành phố lớn nhất ở lưu vực Lưỡng Hà, khi vương quốc mới hình thành, quốc vương Nebuchadnezzar đệ nhị đã xây dựng lại thành phố với quy mô rất lớn. Thành phố có hình tứ giác, chiều dài 22.2km; chu vi 88.8km. Bốn phía tường thành đều có hào sâu bảo vệ, phía trong lại có hai vòng thành bảo vệ, vòng thành ngoài dày 2.5m; cao 9m; vòng thành trong thấp hơn vòng thành ngoài một chút nhưng cũng kiên cố như vậy. Trên vòng thành đều có những điểm trú quân, đường đi giữa các vòng thành đủ rộng cho chiến xa 4 ngựa chạy qua. Cả thành phố có 100 cửa thành bằng đồng, dòng sông chảy qua giữa chi thành phố thành 2 phần, dọc theo theo 2 bờ sông cũng có các bức tường thành và các cánh cửa bằng đồng. Babylon thực sự là một thành phố đạt tới đỉnh cao của kiến trúc.
Tòa thành Babylon đã được xây dựng như thế nào.?
Phương pháp người Babylon sử dụng hết sức khéo léo. Đầu tiên người ta đào đất thành sông, tiếp đó, đất đào lên được nhóm thợ khác làm thành gạch, khi đạt tới số lượng nhất định, người ta mang gạch nung được xếp vào lò nung. Nhóm thợ thứ 3 dùng gạch đó xây thành, đầu tiên là kè bờ sông, sau đó là xây nên tường thành. Người ta dùng nhựa đường để tăng độ kết dính và cứ 30 lớp gạch lại đổ một lớp lau sậy để tăng thêm sự kín khít của toàn bộ bức tường thành. Cách thức vừa đào đất vừa nung gạch lại vừa xây thành tạo nên một vòng tuần hoàn khép kín, triệt để tận dụng được nguyên liệu tại chỗ, nhân lực và vật lực, đẩy nhanh tấc độ thi công xây dựng thành.
Sau khi quốc vương Nebuchadnezzar II qua đời, việc cải tạo dòng sông trong thành, người dây Babylon lại thêm một lần nữa tu bổ thêm cho bức thành bảo vệ. Họ đã đào thêm một dòng sông quanh co khúc khuỷu, chảy suốt 3 ngày mà một ngày đều chảy qua cùng một thôn làng, lại chảy qua hồ nước tới đào mới tới được Babylon. Nhờ đó mà tốc độ dòng chảy cảu con sông được hạn chế bớt, dòng sông quanh co khiến cho thuyền đi lại cũng khó khăn, thành phố trở nên dễ phòng thủ mà khó tấn công.
Sau khi hồ nước được đào xong, người ta tát cạn nước của con sông cũ dẫn nước từ thượng lưu vào hồ. Nhân lúc lòng sông khô cạn, người ta xây những con đê dọc theo bờ sông, tu sửa những con đường dẫn tới các bến sông và xây dựng những cây cầu đá ở các vị trí thích hợp. Giữa các tảng đá, người ta dùng chì và sắt để tăng sự liên kết, giữa các nhịp cầu là những cây cây gỗ vuông có thể lấy ra bất kỳ lúc nào. Khi nước hồ gần đầy thì các công trình này cũng hoàn thành, nước lại chảy theo dòng chảy cũ về tới Babylon.
Kiến trúc của các tòa thành này thể hiện được năng lực tổ chức của người Babylon và trí tuệ uyên thâm của họ, đồng thời cho thấy rõ họ đã nắm vững những kiến thức mà ngày nay chúng ta quen gọi là vận trù học.
Nguồn: Sách trí tuệ nhân loại – trích “Kiến trúc bảo vệ thành Babylon”
Duyên Anh – Theo Bee


