Con người thời nguyên thủy còn phải sống kiểu du cư thành từng bầy đàn, chưa hình thành gia đình. Vào thời đó, do trình độ sản xuất rất thấp kém và lạc hậu, nơi ở của bộ lạc con người còn rất thô sơ. Họ sinh tồn và phát triển dựa trên kinh tế săn bắt và hái lượm. Họ sống lang thang nay đây mai đó, không ổn định và không định cư một cách lâu dài ở một nơi nào cả. Nhờ những ngành khoa học mới, đặc biệt là ngành khảo cổ học nhà ngày nay chúng
ta biết được rõ hơn những nơi ở đơn giản ban đầu của họ khi phát hiện khai quật lên những di chỉ công trình từ xa xưa, hay nhờ các công trình nghiên cứu những bộ lạc nguyên thủy còn tồn tại sống rải rác trên khắp thế giới hiệu nay).
Vào thời kỳ đồ đá cũ, con người cổ xưa sống trong những hang động nguyên sơ hoặc cao hơn là những hang động có gia công chút ít, những hốc núi những hố đá tự nhiên có xếp chèn thêm đá nhỏ, vụn, chung quanh hay có ken đất, cành lá cho kín đáo.
Tiếp đến, nhà ở của họ có hình thức kiểu liếp che chắn thô sơ, những vòm lá kín đáo ở trên cao để tạo nên chỗ náu ẩn tránh được mưa gió, tránh được ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu tự nhiên, tránh được hiểm họa của những cơn nước lũ, mưa rừng và còn tránh được sự dòm ngó, đe dọa của thú rừng. Sau đó là đến nơi ở có mặt bằng hình tròn xây dựng bằng đá hay lá kết bằng các cành cây .
Một thế kỷ sau khi phát hiện ra châu Mỹ, người ta còn phát hiện ra những bộ lạc sống từ thời đồ đá. Loại lều của họ có thể xây bằng vỏ cây hoặc bằng đất. Có loại nhà vòm xây bằng đất có trổ cửa trên đỉnh mái để lấy ánh sáng và kết hợp để thông thoáng.
Cách dựng lều điển hình của thổ dân da đỏ (theo Catecnan) được bắt đầu từ xây dựng một khung hình chữ V ngược, buộc lại ở chỗ giao điểm, rồi dựng thêm một chiếc sào thứ ba làn thành thế chân vạc, nhiều sao phụ khác được dụng tiếp theo và dùng thừng chằng các sao lại với nhau để cuối cùng mái sào được buộc chặt vào khung và ghim chặt xuống đất bằng cọc. Lều thường thấy ở châu Mỹ là loại lều làm bằng thân cây có lớp vỏ cây hoặc phủ bằng da của hươu tuần lộc.
Điều kiện địa lý khác nhau, lều cũng có hình thức khác nhau. Những người Etxkimô Bắc Cực ở trong những lều tròn xây dựng bằng băng và băng càng mới nhà càng ấm. Trong khi đó, người ở vùng sông Amua dựng những lều hình yêu ngựa; còn lều của người dân du mục vùng Bắc Phi có dạng hình chữ nhật phi lá cây hoặc da thú.
Khi cuộc sống du cư chuyển sang định cư, con người vẫn sống theo chế độ xã hội nguyên thủy nhưng đã hình thành gia đình và cả thị tộc cùng tham gia xây dựng nhà ở, làm xuất hiện một loại nhà dài cho vài gia đình. Có nhà chứa được hàng chục gia đình hay hàng trăm người. Tại New York, người ta tìm thấy những nhà dài từ 15 đến 18 mét, giữa nhà có hành lang rộng 1,8 đến 2,5 mét và có vách ngăn bằng vỏ cây. Cứ bốn giao lại có nuột bếp lò và tòa nhà có từ năm đến bảy bếp lò.
Làng xóm bấy giờ, ngoài chướng ngại vật bao xung quanh còn có thêm kho và chuồng súc vật. Tại Ba Lan đã tìm thấy di chỉ một thôn xóm xã hội nguyên thủy với những nhà dài từ 3 đến 12 giau, mỗi gian có một bếp lò, các nhà xếp song song và cách nhau một con đường có lát gỗ rộng từ 2,1 đến 3,1 mét. Làng Bircupinxki nguyên thủy liày rộng tới 2,5 ha. Mỗi nhà trong làng có tường đất đắp và mái nhà dốc.
Các nhà khảo cổ học còn tìm ra được cả một ngôi làng nổi trên hồ Zurich ở Thụy Sĩ. Bí mật này được phát hiện vào năm 1854. Trong một vùng rộng khoảng 40000m2 đã phát hiện được 4 vạn cột gỗ sồi, bạch dương hay gỗ thông. đầu cột được vót nhọn bằng rìu đá. Những vật liệu xây dựng đó còn được giữ cho đến ngày nay là do có một lớp bùn dày che chở.
Người ta cũng tìm thấy rìu đá và những sản phẩm bằng gốm có hoa văn đơn giản. Điều này đã giúp con người hiện đại khôi phục lại được bức tranh sinh hoạt của con người trong thời kỳ đồ đá khi mà họ đã định canh định cư từ bỏ cuộc sống du mục. Đó là những ngôi nhà sàn hình tròn có mái hình nón được đặt trên một mặt sàn đặt nổi trên mặt nước nhờ một hệ thống cột.
Lúc bấy giờ con người thích sống trên hồ hay gần bờ sông để tiện lợi sinh hoạt và chống lại được thú dữ hay bộ lạc kẻ thù.


