Phân loại móng theo hình thức
a. Móng băng
Là loại móng chạy dọc suốt bên dưới các tường chịu lực. Đặc điểm loại nóng này là truyền tải trọng xuống nền tương đối đều đặn. Mặt cắt loại nóng này thường có hình chữ nhật, hình thang hoặc hình giật cấp (h.2.4a), các loại móng trên thường dùng cho các nhà dân dụng it tầng có tải trọng không lớn lá và khi đất có cường độ lớn. Nếu nhà ít tầng có tải trọng không lớn hơn và đất có cường độ trung bình thì thông dụng nhất là loại móng có mặt cắt hình thang và hình giật cấp (h.1.4b và h. 24c). !

Về phương diện thi công, móng kiểu hình 2.4b khó thi công hơn loại hình 2.4c do đó thường chỉ gặp khi vật liệu xây dựng mong là bêtông. Loại móng bằng với cột chôn sâu (h.2.4d) dùng khi lớp đất yếu quá dày và khi nhà cần cấu tạo, tầng hầm.
b. Móng trụ (móng cột)
Nhà kết cấu khung chịu lực hoặc nhà có cột gạch chịu lực thi dưới mỗi cột có mong độc lập (móng đơn) còn gọi là phong trụ.
Nó thường được áp dụng trong nhà ít tầng khi tải trọng truyền lên đất nhỏ, áp suất dưới đế móng nhỏ hơn cường độ của đất. Trong các kết cấu tường chịu lực, móng trụ là những móng cấu tạo có hình thức như những trụ đỡ tường hoặc xây cuốn tường nóng (xem hinh 2.5).

Dùng ống trụ có thể giảm sức lao động, bớt việc đào đất và tiết kiệm vật liệu so với dùng móng băng. Hình dáng thì tùy theo vật liệu và các nhân tố khác mà chọn. Nói chung có hai dạng chính : móng trụ có đáy vuông và mong trụ có đáy chữ nhật (h.2.6). Nếu nền yểu, khi dùng móng cột do diện tích móng lớn, khiến cho khoảng cách giữa chúng tương đối gần nhau thì có thể liên kết móng trụ lại thành như móng băng, như thế không những thi công đơn giản mà còn có lợi là mong được lún đều. Liên kết một chiều thường không thể bảo đảm được độ cứng của nhà, do đó nên liên kết theo cả hai chiều, ta có được móng băng ổ cờ (h.2.7) còn gọi là nóng liên tục.
c. Móng bè
Khi tải trọng của tường chịu lực hoặc của cột quá lớn, diện tích yêu cầu nhỏ nhất của móng bằng hoặc móng cột gần đạt được 75% diện tích ngôi nhà thì có thể liên kết các móng cột với nhau thành một mảng gọi là móng bè. Một số nhà nhiều tầng để hạn chế có hiệu quả chấn động tương đối lớn hoặc sự lún không đều, với yêu cầu mong có cường độ và độ cứng cao thi nóng bỏ có thể có phạm vi ứng dụng rất lớn.

Mong có thể thiết kế kiểu có chân sườn (h.2.8b) với dầm sườn được bố trí theo khoảng cách nhất định cho cả hai chiều hoặc không có dâm sườn (h. 2.8a).
d. Móng cọc
Đối với nền đất yếu phải chịu tải trọng lớn của công trình mài việc gia ‘cô và cải tạo nền đất khó khăn làm tăng giá thành công trình, người ta thường dùng móng cọc. Móng cọc gồm có cọc và đài cọc. Căn cứ vào đặc tính làm việc của cọc trong đất người ta chia móng cọc: 1:1 làm hai loại : móng cọc chồng và móng cọc ma sát (h.2.2). Móng cọc: chống được dùng trong trường hợp dưới lớp đất yếu là lớp đất rắn (đá); đầu dưới cọc đóng chặt vào lớp đất rắn và truyền tải trọng vào nó. Nên móng cọc chồng không bị lún (h.2,9a) hoặc lún không đáng kể.

Trường hợp lớp đất rắn ở quá sâu người ta dùng cọc ma sát, thay cho cọc chống (h.2.9b), Cọc một sát truyền tải trọng công trình vào đất qua lực ma sát giữa đất và bề mặt của cọc. Móng cọc trong nhiều trường hợp thường dùng tre gỗ vì dễ sản xuất và thi công. Trong thi công không để đầu cọc nhô lên khỏi mực nước ngầm thấp nhất để tránh hiện tượng cọc bị mục. Móng cọc bê tông đạt hơn tre và gỗ, dùng cho công trình chịu tải trọng lớn và độ bền vững cao.
Cọc bê tông không phụ thuộc vào mực nước ngầm nên được dùng vào những nơi có mực nước ngầm thay đổi chênh lệch nhiều. Dùng móng cọc cho phép giảm khối lượng đất đào móng khoảng 85%, bêtông 35: – 40%, từ đó giá thành của móng cọc có thể hạ được tới 35%.
Phân theo vật liệu và đặc tính khác
a. Theo vật liệu
Móng phân theo vật liệu thì có móng gạch, móng bêtông đá hộc, móng bêtông (nặng hoặc nhẹ), nóng thép, nóng bêtông cốt thép và một số vật liệu địa phương rẻ tiền khác. Mong đả thường được sử dụng ở những vùng sản xuất nhiều đá. Những vùng ít đá nếu dùng nhưng đã thi tốn kém rất nhiều sức lao động và phí tổn vận chuyển, nên không kinh tế. Nếu dùng đơn thuần ống thép thì không những rất đắt, mà còn dễ bị xâm thực, do đó cũng rất it dùng.
b. Theo đặc tính
Mong phân theo đặc tính làm việc của nó thì có móng cứng , móng nể.
Tùy theo nhóng cứng hay mong mềm mà gối móng được thiết kế chủ yếu chịu nên hay chịu uổn. Góc mở rộng của gối mỏng gọi là góc cứng. Đó là góc làm bởi đường nghiêng mở rộng gối móng với đường nằm ngang.
Với mong cứng, gối móng thường làm bằng bêtông, gạch, đá hộc
Lực chịu nén rất lớn, nhưng chịu uốn kém. Với mong mến thì sức chịu nén và chịu uổn đều tốt, thường gội nhưng làm bằng bê tông cốt thép. Do đó những móng có gối móng làm bằng vật liệu chỉ chịu được nén (bêtông. gạch, đá hộc …) thì gọi là mong cứng. Còn những mong có gòi nóng lạnh bằng vật liệu có thể vừa chịu nén và uốn (bêtông cốt thép) thì gọi là mong mến.
Kích thước mong lớn nhỏ dựa vào tính toán quyết định và phụ thuộc vào khả năng chịu lực của đất, vật liệu làm gối mỏng, tính chất lún của đất nền và trọng lượng của nhà. Độ sâu chôn móng cũng do tính toán quyết định, song nói chung không được chôn nông hơn mặt đất thiên nhiên 50 cm với mục đích bảo đảm để móng không nằm trên lớp đất trồng trọt (loại đất yếu và không ổn định).

