NGUYÊN LÝ THIẾT KẾ KIẾN TRÚC NHÀ DÂN DỤNG NHÀ Ở & NHÀ CÔNG CỘNG
Ở đây vấn đề cơ bản là chọn được nắng gắt từ ngoài trời vào nhà bằng nhiều cách như: dùng các loại tấn chắn, mái hắt (ô văng) mái hiên, lô gia, giàn hoa trên mái, chớp gỗ hay nhựa polyme, kim loại hoặc mành mành (cố định hay di động), tường phản xạ, dùng mặt nước để cải tạo vi khí hậu và dùng màu trắng hoặc sáng để giảm mức hấp thụ nhiệt tăng lượng nhiệt phản xạ. Có thể tăng bề dày kết cấu, bổ sung lớp cách nhiệt để tường, mái, lâu bị nóng khi mặt trời chiếu vào. Tuy nhiêu biện pháp này có nhược điểm là khi bị nóng lên thì sẽ truyền nhiệt rất mạnh và giữ nhiệt lâu sau khi nguồn nhiệt tắt. Một giải pháp khác được áp dụng là dùng đệm không khí giữa hai lớp vật liệu như tường mái hai lớp (biện pháp này sẽ làm tăng tải trọng nhà và cấu tạo tốn kém hơn).
Ngoài ra, còn có những cách khác để đạt được yêu cầu cách nhiệt tốt, song lại phát sinh những điều bất lợi. Ví dụ: dùng cây cảnh nhỏ, thảm cỏ trên mãi hoặc lớp nước chứa trên mái, phun nước hoặc cung cấp nước chảy đầy đi và phải bảo dưỡng thường xuyên.
Việc nghiên cứu quỹ đạo mặt trời và những thay đổi có tính chu kỳ trong năm, xác định các tia nắng chiếu theo giờ trong ngày, tháng, mùa, giúp ta hoàn chỉnh các giải pháp chống nóng hợp lý và chuẩn xác.
- Chống mưa tạt, chống ẩm và che gió lạnh mùa đông
Do những điều kiện đặc biệt của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, về mùa đông có gió lạnh (ở miền Bắc nước ta thường xảy ra trong khoảng bốn tháng). Đó là gió mùa Đông Bắc mang theo độ ẩn cao nên đã rét lại giá buốt và thổi mạnh. Bố trí các phòng hoạt động chính làm sao để có gió mát về mùa hè, tránh được gió lạnh về mùa đông là yêu cầu quan tâm đầu tiên. Đối với nhà ở gia đình phải chống lạnh các phòng chính (plòng ngủ, phòng khách, phòng sum họp gia đình…).
Tại một số nước xứ lạnh, về mùa đông, người ta còn dùng các giải pháp kỹ thuật – nhân tạo để chống lạnh như hệ thống lò sưởi bằng đốt củi, cấp hơi nước nóng, chơi gas hay bằng nguồn điện… Các giải pháp này có thiết bị kèm theo nên phải chú ý tới hình dáng, kích thước, màu sắc, chi tiết để không làm ảnh hưởng tới thẩm mỹ kiến trúc và các ảnh hưởng khác nữa (tạo độ ẩm lớn nếu dùng lệ thống sưởi bằng hơi đốt – gas).
Khi nghiên cứu về điều kiện khí hậu, người kiến trúc sư còn cần nghiên cứu về độ ẩm và chế độ mưa. Chống ẩm là một yêu cầu quan trọng trong nhà ở (nhất là ở miền Bắc Việt Nam).
Độ ẩm , được chia ra làm hai loại:
Độ ẩm tuyệt đối (được đo bằng trị số gam hơi nước / trọng lượng đơn vị không khí) Độ ẩm tương đối (được đo bằng phần trăm lượng hơi nước có trong đơn vị không khí ở trạng thái bão hòa hơi nước ) Ở Việt Nam: = 65; 100%. Ở châu Âu: p = 50 ; 65%.
- Chống thấm dột
Để khắc phục được sự thấm dột trong nhà ở, người kiến trúc sư cấu tạo nên những kết cấu bao che có hiệu quả, và để làm tốt điều này thì cần phải nắm được chế độ mưa từng vùng, từng mùa, được biểu hiện bằng vũ lượng (cột cao 1mm) do một trận mưa lớn hay tổng cộng các trận mưa gây ra trong năm, trong mùa.
Ở Việt Nam: thông thường từ 750 đến 1000 mm/năm tùy khu vực.
Khi nắm được rõ điều này, chúng ta sẽ có những giải pháp tốt về cấu tạo lớp cách nước và độ dốc mái tạo nên sự thoát nước nhanh, chống được sự thấm dột. Độ dốc mái phụ thuộc chất liệu lợp mái và kích thước tấm lợp.
Ví dụ: Mái bêtông: độ dốc 5 – 10%. Mái tôn: 12 – 18″.
Mái ngói: 350
Mái rơm, rạ: 40 – 459

